TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 40/2025/DS-ST Ngày 26/5/2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Chỉnh
2. Ông Nguyễn Xuân Chung
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Hội - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 204/2025/TLST-DS ngày 10/12/2024 về việc Tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-DS ngày 10/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2025/QÐST-DS ngày 06/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Chu Thị T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hà Thị D, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn là anh Lê Văn H trình bày:
Anh làm nghề môi giới bất động sản, anh được biết chị Chu Thị T có thửa đất số 175, tờ bản đồ số 21 có diện tích 180m² tại địa chỉ thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang muốn bán. Anh đã gặp chị T và đặt vấn đề muốn mua thửa đất này và chị T đồng ý.
Ngày 26 tháng 5 năm 2022, giữa anh và chị Chu Thị T có ký kết với nhau Hợp đồng đặt cọc. Theo Hợp đồng thì anh sẽ đặt cọc cho chị T số tiền là 1.000.000.000 đồng; thời hạn đặt cọc là 30 ngày kể từ ngày 26/5/2022 đến ngày 24/6/2022. Hai bên thỏa thuận với nhau là trong thời hạn 30 ngày này thì chị T phải làm thủ tục để sang tên chuyển nhượng cho anh thửa đất số 175, tờ bản đồ số 21 có diện tích 180m² tại địa chỉ thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nếu chị T không làm thủ tục sang tên chuyển nhượng cho anh thì chị T phải trả lại cho anh số tiền anh đã đặt cọc là 1.000.000.000 đồng và phạt cọc là số tiền 1.000.000.000 đồng, tổng cộng chị T phải trả cho anh số tiền là 2.000.000.000 đồng.
Tuy nhiên, hết thời hạn trên chị T không làm thủ tục sang tên chuyển nhượng cho anh thửa đất số 175, tờ bản đồ số 21 có diện tích 180m² tại địa chỉ thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh đã yêu cầu rất nhiều lần nhưng chị T không làm thủ tục sang tên chuyển nhượng cho anh. Sau đó anh yêu cầu chị T phải trả lại cho anh số tiền anh đã đặt cọc nhưng chị T cũng không trả. Hiện nay anh không liên lạc được với chị T nữa.
Khi anh và chị T đặt cọc thì có sự chứng kiến của chị Nguyễn Thị L nhưng việc anh và chị T đặt cọc không liên quan gì đến chị L. Việc anh đặt cọc cũng không liên quan đến chồng chị T, anh không quen biết gì với chồng chị T và cũng không liên quan đến vợ anh là Hà Thị D vì đây là việc làm ăn cá nhân của anh, chị D không tham gia cùng.
Nay, anh khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc một mình chị Chu Thị T phải trả cho một mình anh số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng và phạt cọc 1.000.000.000 đồng đồng, tổng cộng số tiền anh yêu cầu chị T phải trả cho anh là 2.000.000.000 đồng.
Ngoài ra Lê Văn H không còn yêu cầu nào khác.
* Đối với bị đơn là chị Chu Thị T trình bày: Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho chị T, nhưng chị T không có ý kiến gì và không đến Tòa án để làm việc.
* Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Hà Thị D trình bày:
Ngày 26/5/2022, chồng chị là anh Lê Văn H có làm hợp đồng đặt cọc mua bán đất của chị Chu Thị T đối với thửa đất có Giấy chứng nhận số CK 100809, CS 02958. Nhưng do hôm đó chị bận nên không đi cùng và không tham gia đặt cọc giữa chồng chị và chị Chu Thị T.
Chị xác định bản thân chị không liên quan đến việc anh H và chị T ký kết hợp đồng đặt cọc. Chị không biết hai bên thỏa thuận với nhau việc đặt cọc như thế nào. Đây là việc làm ăn riêng của chồng chị nên giữa chị và anh H không có sự bàn bạc gì. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án không triệu tập chị tham gia vụ án.
Ngoài ra, chị Hà Thị D không còn ý kiến nào khác.
- Ngày 12/3/2025, Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Chu Thị T và chị Hà Thị D vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Ngày 09/4/2025, Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Chu Thị T và chị Hà Thị D vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Ngày 06 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam mở phiên tòa, anh Lê Văn H có mặt, chị Hà Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Chu Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đề nghị hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 26 tháng 5 năm 2025, anh Lê Văn H và chị Hà Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Chu Thị T đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
+ Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Điều 328, Điều 385 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Lê Văn H, buộc chị Chu Thị T phải trả cho anh Lê Văn H số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 và số tiền phạt cọc là 1.000.000.000 đồng, tổng số tiền chị T phải trả cho anh H là 2.000.000.000 đồng.
Về án phí: Chị Chu Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau nghe khi ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Đối với nguyên đơn là anh Lê Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Hà Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là chị Chu Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Chu Thị T có địa chỉ cư trú tại xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ vào Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện anh Lê Văn H và chị Chu Thị T đã ký kết hợp đồng đặt cọc với số tiền là 1.000.000.000 đồng. Vì vậy, tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự.
[4] Về nội dung vụ án:
[4.1] Ngày 26/5/2022, anh Lê Văn H và chị Chu Thị T có ký hợp đồng đặt cọc với số tiền 1.000.000.000 đồng để chuyển nhượng đối với thửa đất số 175 có diện tích 180m², tờ bản đồ số 21 mang tên chị Chu Thị T; địa chỉ thửa đất ở thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh H đã đặt cọc số tiền 1.000.000.000 đồng cho chị T và hẹn thời hạn đặt cọc là 30 ngày (kể từ ngày 26/5/2022 đến ngày 24/6/2022) chị T phải làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng thửa đất trên cho anh H. Tuy nhiên, đến nay chị T vẫn chưa làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng thửa đất trên cho anh H.
Nay, anh H đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị T phải có trách nhiệm trả cho anh H tổng số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng và tổng số tiền phạt cọc là 1.000.000.000 đồng.
[4.2] Xét yêu cầu trả lại tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng của anh Lê Văn H thì thấy:
Căn cứ Hợp đồng đặt cọc ngày 26/5/2022 giữa bên bán là chị Chu Thị T và bên mua là anh Lê Văn H về việc chuyển nhượng thửa đất số 175 có diện tích 180m², tờ bản đồ số 21 mang tên chị Chu Thị T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 100809; địa chỉ thửa đất ở thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh H đặt cọc số tiền 1.000.000.000 đồng cho chị T.
Căn cứ lời trình của anh H, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ các bên cung cấp thì thấy: Anh Lê Văn H và chị Chu Thị T có ký kết hợp đồng đặt cọc với nhau để chuyển nhượng thửa đất số 175 có diện tích 180m², tờ bản đồ số 21 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 100809; địa chỉ thửa đất ở thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, anh H đã đặt cọc cho chị T tổng số tiền là 1.000.000.000 đồng. Anh H xác định việc anh đặt cọc với chị T không liên quan đến vợ anh là chị D và không liên quan đến anh T1 là chồng chị T. Vì vậy, anh H yêu cầu buộc một mình chị T phải trả cho một mình anh số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng.
Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho chị T, chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị T không có ý kiến gì và không đến Tòa án để làm việc. Như vậy, chị T đã từ bỏ quyền lợi của mình.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L; Văn phòng C và Văn phòng đăng ký đất đai huyện L thì thấy: Từ ngày 26/5/2022 đến nay, không có thông tin biến động và không có thông tin giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 175 có diện tích 180m², tờ bản đồ số 21 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 100809; địa chỉ thửa đất ở thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Từ những phân tích nêu trên, HĐXX thấy lỗi là do phía chị T không thực hiện đúng theo hợp đồng đặt cọc như đã thỏa thuận. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Lê Văn H đối với chị Chu Thị T về việc buộc chị Chu Thị T phải trả anh Lê Văn H tổng số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng là phù hợp với Điều 328 của Bộ luật dân sự.
[4.3] Xét yêu cầu trả tiền phạt cọc 1.000.000.000 đồng của anh Lê Văn H thì thấy:
Căn cứ Hợp đồng đặt cọc ngày 26/5/2022 giữa bên bán là chị Chu Thị T và bên mua là anh Lê Văn H về việc chuyển nhượng thửa đất số 175 có diện tích 180m², tờ bản đồ số 21 mang tên chị Chu Thị T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 100809; địa chỉ hai thửa đất ở thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang với số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng.
Như đã phân tích tại mục [4.2] thì lỗi là do phía chị T không thực hiện đúng theo hợp đồng đặt cọc như đã thỏa thuận.
Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Lê Văn H đối với chị Chu Thị T về việc buộc chị Chu Thị T phải trả anh Lê Văn H tổng số tiền phạt cọc là 1.000.000.000 đồng là phù hợp với Điều 328 của Bộ luật dân sự.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của anh Lê Văn H được chấp nhận, nên chị Chu Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội là 72.000.000 đồng.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Điều 328, Điều 385 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn H, buộc chị Chu Thị T phải trả cho anh Lê Văn H số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) và số tiền phạt cọc là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
- Về án phí: Chị Chu Thị T phải chịu 72.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho anh Lê Văn H 36.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh đã nộp theo biên lai thu số 0004467 ngày 10/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Ngọc O |
Bản án số 40/2025/DS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 40/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lê Văn H khởi kiện chị CHu Thị T
