TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ Bản án số: 40/2025/DS - ST Ngày: 19 - 12 - 2025 V/v: Kiện đòi tài sản (tiền) | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Minh Thêu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Nhiến, bà Phạm Thị Nga
Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thành Đạt - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 226/2025/TLST-DS, ngày 03/10/2025 về việc “Kiện đòi tài sản (tiền)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-DS ngày 17/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2025/QÐST-DS, ngày 03/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm 1962; địa chỉ: Số nhà B, tiểu khu D, xã M, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ A, phường T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt
- Người làm chứng: bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1963; địa chỉ: tổ C, phường H, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo khởi kiện và trong quá trình xét xử vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị M trình bày:
Ngày 07/9/2013, chị Lê Thị Thanh T có lập giấy vay tôi số tiền là 1.050.000.000 đồng; hai bên có thỏa thuận về lãi nhưng không ghi rõ ràng trong giấy vay tiền. Mục đích chị T vay là để chị T trả vào Ngân hàng N chi nhánh M1 vào việc thanh toán tiền cho Cơ quan Thi hành án huyện Mai Châu (nay là Phòng THADS khu vực 16, tỉnh Phú Thọ) để mở đấu giá tài sản của vợ chồng anh Hoàng Đình T1 và chị Nguyễn Thị Thu H1. Trong giấy vay tiền có nội dung: trong tháng 9/2013 chị T sẽ trả cho tôi số nợ trên cả gốc và lãi theo thỏa thuận. Từ năm 2013 đến nay tôi đã nhiều lần đòi nhưng chị T không trả.
Nay tôi yêu cầu tòa án giải quyết buộc chị T phải trả cho tôi toàn bộ số tiền gốc là 1.050.000.000 đồng. Đối với lãi và án phí đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Đối với bị đơn, quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần gửi các Giấy triệu tập, thông báo của Tòa án cho bà Lê Thị Thanh T đến Tòa làm việc nhưng bà T đều vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không đưa ra yêu cầu phản tố.
- Bà Nguyễn Thị Thu H – người làm chứng trình bày:
Tôi có mối quan hệ quen biết với bà M đã lâu và là chị dâu của bà Lê Thị Thanh T. Tôi biết việc vay nợ giữa bà M và bà T vì tôi được chứng kiến, có mặt ở đó. Số tiền vay tôi chỉ nhớ khoảng hơn 01 tỷ đồng vì thời gian đã lâu nên tôi không nhớ chính xác. Tôi chỉ nắm được cô T vay cô M để sử dụng vào việc riêng, còn cô T không nói với tôi dùng số tiền đó để làm gì. Trong giấy vay nợ tôi có ký là người bảo lãnh, nhưng thực chất chỉ là người chứng kiến cho việc hai người vay mượn tiền của nhau, chứ tôi không phải là người đứng ra bảo lãnh để trả khoản vay đó cho cô T vì tôi không được sử dụng số tiền đó. Tôi không có trách nhiệm phải trả khoản nợ đó cho cô T, cũng rất lâu rồi tôi không biết cô T đang ở đâu và làm gì.
Tại biên bản xác minh ngày 26/11/2025 Công an phường T, tỉnh Phú Thọ cung cấp: Theo dữ liệu quốc gia về dân cư cho thấy: công dân Lê Thị Thanh T, sinh năm 1969 có hộ khẩu tại tổ dân phố số F, phường T, tỉnh Phú Thọ; hiện tại bà T có đăng ký tạm trú tại tổ A, phường T, tỉnh Phú Thọ. Hiện tại bà T không có mặt cũng như không sinh sống ở địa phương, thỉnh thoảng bà T có về rồi lại đi nhưng không cung cấp thông tin cũng như không khai báo với chính quyền địa phương đi đâu, làm gì.
Tại biên bản xác minh ngày 12/10/2025 đối với ông Nguyễn Tá T2 – Tổ trưởng tổ dân phố A, phường T, tỉnh Phú Thọ cho biết: Bà Lê Thị Thanh T là công dân của tổ dân phố số A, phường T, tỉnh Phú Thọ (phường D cũ). Hiện tại bà T không có mặt cũng như không sinh sống ở đây đã lâu, khi đi bà T không nói cho ai biết và cũng không khai báo với chính quyền địa phương đi đâu,làm gì nên không nắm được.
Tại biên bản xác minh ngày 12/10/2025 đối với bà Phạm Thị T3 là mẹ đẻ của bà Lê Thị Thanh T cho biết: Bà là mẹ đẻ của Lê Thị Thanh T, hiện tại T đang ở DUBAI, T không liên lạc với tôi thường xuyên chỉ thỉnh thoảng gọi zalo hỏi thăm sức khỏe. Tôi không biết địa chỉ của T ở D, có hỏi nhưng T cũng không cung cấp, T không nói thời gian nào sẽ về Việt Nam nên tôi cũng không biết. Tôi không biết về việc vay nợ giữa T và bà Lê Thị M, không ai nói cho tôi biết cả; tôi không thấy T nói chuyện về gửi tài liệu hoặc nhờ người gửi tài liệu hoặc nhờ người làm việc với Tòa án.. Tại biên bản xác minh ngày 10/12/2025 bà T3 cho biết: Hiện tại T con gái tôi không có mặt ở địa phương, T đang ở D. Tôi không biết địa chỉ của T ở đâu và T cũng không nói, thỉnh thoảng T có gọi zalo về hỏi thăm gia đình, T nói sang Dubai có việc và không nói bao giờ về, chỉ nói xong việc sẽ về. Về việc vay nợ giữa T và chị M tôi có nghe T nói qua, giờ tôi già rồi cũng không quan tâm đến chuyện làm ăn của T nên cũng không hỏi. T không nhờ tôi gửi tài liệu cho Tòa án, cũng không thông báo về việc gửi tài liệu hoặc nhờ người làm việc hoặc gửi tài liệu gì cho Tòa, vì hiện nay T đang ở D.
Tại biên bản xác minh ngày 13/11/2025 đối với ông Lê Văn K – Tổ phó tổ dân phố số E, phường T, tỉnh Phú Thọ cho biết: Bà Phạm Thị T3 là cư dân tổ dân phố số E, phường D (cũ); hiện tại bà T3 đang ở một mình tại đây không có con cái ở cùng bà T3. Chị Lê Thị Thanh T là con gái của bà T3 nhưng không phải là cư dân tổ này, chị T không sống tại đây. Tôi không biết T ở đâu và làm gì vì không phải cư dân địa bàn chúng tôi quản lý.
Ngày 22/10/2025 Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ gửi công văn đề nghị Phòng Xuất nhập cảnh công an tỉnh P xác minh thông tin xuất nhập cảnh đối với Lê Thị Thanh T, sinh ngày 12/01/1969; địa chỉ: tổ F, phường T, tỉnh Phú Thọ.
Tại công văn số 698/QLXNC-DD ngày 30/10/2025 của Phòng QLXNC Công an tỉnh P cung cấp: Qua tra cứu dữ liệu xuất nhập cảnh hiện hành tại đơn vị: Trường hợp trên được Cục Q – Bộ C cấp hộ chiếu gần nhất số C0943281 ngày 15/9/2015, hạn đến 15/9/2025 (tình trạng hủy ngày 20/3/2020 do trình báo mất tại Đ tại A-rập) và được Cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài cấp hộ chiếu số N2183357; có lịch sử xuất nhập cảnh nhiều lần, lần gần nhất xuất cảnh bằng hộ chiếu N2183357 ngày 04/7/2025 qua cảng hàng không Quốc tế N1; chưa có thông tin nhập cảnh.
Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ đã tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ nhưng phía bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng không có mặt; nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, do đó vụ án phải đưa ra xét xử.
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị tòa án buộc bà Lê Thị Thanh T phải trả cho bà toàn bộ số tiền vay là 1.050.000.000 đồng và trả lãi theo quy định của pháp luật tại thời điểm tháng 10 năm 2013.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Thẩm phán, Thư ký tòa án đã thực hiện đúng các quy định của BLTTDS trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Lê Thị Thanh T phải trả cho bà Lê Thị M số tiền nợ gốc là 1.050.000.000 đồng; lãi suất 10% /năm, tính từ thời điểm tháng 10/2013 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lê Thị M khởi kiện buộc bà Lê Thị Thanh T phải trả số tiền đã vay. Bị đơn bà T có địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại: tổ A, phường T, tỉnh Phú thọ. Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền về loại việc và thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ.
- Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ cho các đương sự theo đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự và đã xác định phạm vi khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn không có ý kiến và không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không có khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tiến hành tố tụng của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ, nên về hành vi, quyết định tố tụng là hợp pháp, tuân thủ quy định pháp luật Tố tụng dân sự.
- Tòa án đã tiến hành triệu tập, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Lê Thị Thanh T. Theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự: Đương sự phải có nghĩa vụ tôn trọng Tòa án, phải có mặt theo giấy triệu tập và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Như vậy bà T đã từ bỏ quyền lợi của mình về việc được nêu quan điểm, ý kiến và cung cấp chứng cứ chứng minh. Theo Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa chỉ căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do các đương sự cung cấp cũng như các tài liệu mà Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập để làm căn cứ giải quyết vụ án.
- Về sự vắng mặt người tham gia tố tụng: Bà Lê Thị Thanh T đã được tống đạt và niêm yết hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án đã tiến hành xác minh mẹ đẻ của bà T 02 lần nhưng mẹ bà T không cung cấp địa chỉ mới của bà T. Do đó Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ – HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Căn cứ Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân Khu vực 12- Phú Thọ tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đối với yêu cầu trả tiền nợ gốc 1.050.000.000 đồng:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa bà Lê Thị M yêu cầu bà Lê Thị Thanh T phải trả số tiền vay là 1.050.000.000 đồng theo giấy vay nợ viết tay ngày 07/9/2013. Quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị Thanh T đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ nhưng không đến Tòa án và không nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành xác minh mẹ đẻ của chị T là bà Phạm Thị T3 02 lần nhưng bà T3 cũng không cung cấp được địa chỉ của bà T vì bà T không cung cấp địa chỉ cho người thân của mình, do đó Tòa án không tiến hành lấy được ý kiến, lời khai của bà T. Do đó trường hợp này bà T cố tình dấu diếm địa chỉ, không nêu ý kiến, quan điểm và cũng không có ý kiến về việc áp dụng thời hiệu, do đó vụ án vẫn được xem là còn thời hiện và được xét xử theo thủ tục thông thường.
Đối với giấy vay tiền ngày 07/9/2013 tại phiên tòa bà M khai do bà T tự tay viết và có người chứng kiến là bà H, giấy vay tiền tuy không được công chứng, chứng thực nhưng được sự xác nhận của bà M và bà H, việc viết giấy vay tiền là hoàn toàn tự nguyện thể hiện ý chí của các bên, do đó xác nhận bà T có vay của bà M số tiền 1.050.000.000 đồng là có thật.
Đối với tin nhắn điện thoại có ghi “Thuy HB2” được phía nguyên đơn cung cấp về việc đòi và khất thời gian giải quyết nợ của bà M và người có tên “Thuy HB2”, do không có bà Lê Thị Thanh T đối chất nên không có cơ sở khẳng định đây là tin nhắn trao đổi giữa bà T và bà M, nguồn gốc thu thập chứng cứ không rõ nên không được coi là chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.
Đối với “ Đơn đề nghị” đề “Phú Thọ, ngày 16 tháng 10 năm 2025” gửi Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ có ghi người đứng đơn và ký đơn có tên “Lê Thị Thanh T” có nội dung: Đã nhận được thông báo thụ lý vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà M. Hợp đồng vay tiền giữa tôi và bà M đã hết thời hiệu khởi kiện vì đã quá 03 năm. Đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án, còn quan hệ vay tiền giữa tôi và bà M sẽ thương lượng riêng với nhau. Đơn đề nghị được gửi qua đường bưu điện đến Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ, thông qua bưu cục P, phường H, tỉnh Phú Thọ và ngày 17/10/2025.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại Công văn số 689/QLXNC-DD ngày 30/10/2025 của Phòng QLXNC Công an tỉnh P cung cấp: bà Lê Thị Thanh T có hộ chiếu N2183357 lần xuất cảnh gần nhất vào ngày 04/7/2025 qua Cảng hàng không quốc tế N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tại biên bản xác minh đối với bà Phạm Thị T3 là mẹ đẻ của bà Lê Thị Thanh T vào ngày 12/10/2025 và ngày 10/12/2025 bà T3 cung cấp: hiện bà T đang ở D, bà T không cung cấp địa chỉ và không thông báo bao giờ sẽ về Việt Nam, bà T3 có biết việc vay nợ giữa bà M và bà T nhưng không biết cụ thể vì không quan tâm. Bà T3 cũng không được bà T nhờ gửi tài liệu cho Tòa án, không được nghe bà T thông báo về việc nhờ người gửi tài liệu cho Tòa án hoặc nhờ người làm việc với Tòa án.
Từ những chứng cứ nêu trên khẳng định: Hiện bà Lê Thị Thanh T đang ở nước ngoài, chưa nhập cảnh về Việt Nam, bà T không nhờ ai gửi giấy tờ, tài liệu đến Tòa án nên không có căn cứ chấp nhận “đơn đề nghị” ngày 16/10/2025 là do bà T ký gửi Tòa án Khu vực 12 – Phú Thọ do đó xác định đây không phải làm ý kiến của bà T đối với yêu cầu khởi kiện của bà M, không phải là tài liệu, chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.
Mặt khác tòa án đã tiến hành lấy lời khai của người làm chứng Nguyễn Thị Thu H, bà H có ký tại giấy vay nợ ngày 07/9/2013 là người bảo lãnh. Bà H khẳng định có biết và trực tiếp chứng kiến việc bà T vay là Măng tiền, số tiền bà không nhớ cụ thể nhưng khoảng hơn 1 tỷ đồng; bà T không nói cho bà H biết mục đích vay tiền để làm gì, bà H chỉ ký với tư cách người chứng kiến sự việc. Do đó có cơ sở khảng định việc bà Lê Thị M cho bà Lê Thị Thanh T vay số tiền 1.050.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 07/9/2013 là đúng sự thật.
Tại phiên tòa bà Lê Thị M xác nhận: Ngày 24/6/2013 bà T đã trả cho bà M 100.000.000 đồng; đó là tiền trả lãi cho khoản vay trước khi lập giấy vay tiền giữa bà M và bà T, bà T đã xác nhận bà M trả lãi cho bà T số tiền 129.800.000 đồng. Nay bà M đồng ý trừ 100.000.000 đã nhận của bà T ngày 24/6/2013 vào số tiền lãi cho khoản nợ 1.050.000.000 đồng bà M không đòi bà T phải trả thêm số tiền 29.800.000 đồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Lê Thị Thanh T phải trả cho bà Lê Thị M số tiền gốc 1.050.000.000 đồng.
[2.2] Đối với yêu cầu tiền lãi của Nguyên đơn đề nghị trả lãi theo quy định của pháp luật.
Theo giấy vay tiền ngày 07/9/2013 giữa bà Lê Thị M và bà Lê Thị Thanh T không có thỏa thuận cụ thể về lãi suất. Tuy nhiên có sự thỏa thuận: trong tháng 9/2013 bà T sẽ thanh toán cho bà M số nợ trên cả gốc và lãi theo thỏa thuận. Do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu tính lãi của bà M đối với khoản tiền bà T đã vay kể từ ngày hết thời hạn trả nợ.
Các bên đương sự có thỏa thuận về việc trả lãi tuy nhiên không xác định rõ lãi suất. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ. Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quả 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác....”. Do vậy mức lãi suất được áp dụng trong trường hợp này là 10%/năm tính ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến thời điểm xét xử. Cụ thể:
- Về thời gian chậm trả: tính từ 01/10/2013 đến ngày xét xử ngày 19/12/2025 là: 12 năm 79 ngày.
- Về mức lãi suất: Theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 mức lãi suất áp dụng là 10%/năm tương đương với số tiền 1.050.000.000 đồng tương đương 12 năm 79 ngày.
Tiền lãi là: 1.050.000.000₫ x 10% x 12 năm 79 ngày = 1.282.726.027 đồng – 100.000.000đ (trả ngày 24/6/2013) = 1.182.726.027 đồng.
Tổng cộng cả gốc và lãi là: 1.050.000.000 + 1.182.726.027 = 2.232.726.027 đồng
Như vậy t ổng số tiền bà T phải trả cho bà M là: 2.232.726.027 đồng
[3] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; 271; 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Căn cứ các Điều 146, 280, 463, 465; 466; 468 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị M: Buộc bà Lê Thị Thanh T phải trả cho bà Lê Thị M số tiền gốc và lãi tính đến ngày 19/12/2025 là: 2.232.726.027 đồng (Hai tỷ, hai trăm ba mươi hai triệu, bảy trăm hai mươi sáu nghìn, không trăm hai mươi bảy đồng); trong đó: nợ gốc là 1.050.000.000 đồng, nợ lãi là: 1.182.726.027 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 20/12/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
- Về án phí: Bà Lê Thị Thanh T phải nộp 76.655.000 (Bảy mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Bà Lê Thị M số tiền 21.750.000 (Hai mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo biên lai số 0002702 ngày 03/10/2025.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp, tống đạt hợp lệ bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hànhán dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự cóquyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành ánhoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành ándân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thêu |
Bản án số 40/2025/DS - ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ về kiện đòi tài sản (tiền)
- Số bản án: 40/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản (tiền)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: M - T đòi tài sản
