|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 40/2025/DS-ST Ngày: 09 – 4 – 2025 V/v tranh chấp: Hợp đồng tín dụng. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quí
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Việt Thành
- Bà Trần Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Tạ Bá Nhịn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 324/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2025/QĐXX-ST ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ: Số B - BN, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc
+ Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Thanh L – Chuyên viên quản lý nợ
Địa chỉ liên hệ: Số 1, đường B, khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ (Giấy ủy quyền số: 1107/GQĐ-PGD.OM ngày 15/7/2024)
-
Bị đơn: Bà Đoàn Thị Kim T, sinh năm: 1981
Địa chỉ: Số I, tổ D, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn – ông Hồ Thanh L1 bày: Ngày 30/9/2016, bà Đoàn Thị Kim T1 ký với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C– Phòng G(S1) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S). Căn cứ vào thu nhập của bà Đoàn Thị Kim T2 hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 20.000.000 đồng theo chính sách ĐK thu nhập – sao kê lương, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Đoàn Thị Kim T3 thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 38.295.500 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt cho đến nay bà Đoàn Thị Kim T3 thanh toán cho Ngân hàng số tiền 65.958.325 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Đoàn Thị Kim T4 không có thiện chí trả nợ. Do bà Đoàn Thị Kim T3 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 29/02/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 11/7/2024, bà Đoàn Thị Kim T5 nợ tổng số tiền 26.028.332 đồng (nợ gốc – phí 21.199.652 đồng, lãi quá hạn 4.828.680 đồng).
Do đó, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu: Buộc bà Đoàn Thị Kim T6 trả cho Ngân hàng TMCP S với tổng số tiền tính đến ngày 11/7/2024 là 26.028.332 đồng (nợ gốc 21.199.652 đồng, lãi quá hạn 4.828.680 đồng) và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 12/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng.
* Bị đơn bà Đoàn Thị Kim T3 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa,
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Hồ Thanh L1 bày: Theo nội dung đơn khởi kiện, tổng số tiền bà Đoàn Thị Kim T5 nợ tính đến ngày 11/7/2024 là 26.028.332 đồng nhưng từ khi khởi kiện cho đến nay bà Đoàn Thị Kim T4 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Đoàn Thị Kim T7 ngay cho Ngân hàng với tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/4/2025) là 34.164.668 đồng (trong đó: nợ cuối kỳ 20.000.000 đồng, lãi quá hạn 12.965.016 đồng và phí 1.199.652 đồng) và khoản tiền lãi phát sinh tính từ ngày 10/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng.
- Bị đơn bà Đoàn Thị Kim T3 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào đơn khởi kiện và hồ sơ vụ án, Tòa án thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn vắng mặt không có lý do, không cung cấp tài liệu chứng cứ và không có ý kiến đối với tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp. Do đó, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn; đồng thời, xem xét các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp phù hợp với quy định của pháp luật để giải quyết vụ án là có căn cứ.
Ngày 30/9/2016, bị đơn bà Đoàn Thị Kim T1 ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C– Phòng G(S1) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) với hạn mức sử dụng 20.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Đoàn Thị Kim T3 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện là có căn cứ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm bà Đoàn Thị Kim T5 nợ tổng số tiền là 34.164.668 đồng (trong đó, nợ cuối kỳ 20.000.000 đồng, lãi quá hạn 12.965.016 đồng và phí 1.199.652 đồng) là phù hợp; nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh tính từ ngày 10/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng là có căn cứ. Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng TMCP S – Chi Nhánh C– Phòng Gvới bà Đoàn Thị Kim T1 ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 20.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Đoàn Thị Kim T3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đoàn Thị Kim T3 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
[2] Căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn Ngân hàng TMCP S giao nộp thể hiện: Ngày 30/9/2016, bị đơn bà Đoàn Thị Kim T1 ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C– Phòng Ghợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) với hạn mức sử dụng 20.000.000 đồng. Bị đơn bà Đoàn Thị Kim T8 hiện giao dịch với tổng số tiền 38.295.500 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 65.958.325 đồng thì bị đơn ngưng giao dịch, không thanh toán nợ và trả lại thẻ tín dụng cho nguyên đơn; nguyên đơn đã ra thông báo, nhắc nhở nợ nhiều lần nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ như đã ký kết. Tính đến ngày 11/7/2024, bị đơn bà Đoàn Thị Kim T5 nợ nguyên đơn Ngân hàng TMCP S tổng số tiền 26.028.332 đồng ( nợ gốc 20.000.000 đồng, phí 1.199.652 đồng và lãi quá hạn 4.828.680 đồng); bị đơn bà Đoàn Thị K được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không giao nộp chứng cứ, không có ý kiến đối với chứng cứ do nguyên đơn giao nộp nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S là phù hợp. Từ khi nguyên đơn khởi kiện cho đến nay, bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và nguyên đơn có yêu cầu bị đơn tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận đã ký kết cho đến khi trả dứt nợ là có căn cứ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Đoàn Thị Kim T5 nợ tổng số tiền 34.164.668 đồng (trong đó, nợ cuối kỳ 20.000.000 đồng, lãi quá hạn 12.965.016 đồng và phí 1.199.652 đồng). Do đó, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn bà Đoàn Thị Kim T9 đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp. Bị đơn bà Đoàn Thị Kim T5 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh tính từ ngày 10/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng.
[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Điều 91, Điều 94 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn bà Đoàn Thị Kim T10
Buộc bị đơn bà Đoàn Thị Kim T1 nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 34.164.668 đồng (nợ cuối kỳ 20.000.000 đồng, lãi quá hạn 12.965.016 đồng và phí 1.199.652 đồng).
Bị đơn bà Đoàn Thị Kim T5 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh tính từ ngày 10/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng.
Về án phí: Bị đơn bà Đoàn Thị Kim T6 nộp số tiền 1.708.200 đồng (một triệu bảy trăm lẻ tám nghìn hai trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S được nhận lại số tiền 650.708 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn bảy trăm lẻ tám đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001084 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Quí |
Bản án số 40/2025/DS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 40/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sacombank - Kim Trinh
