TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2025/DS-ST
Ngày: 09/4/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Duyên
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Hồ Thị Lệ Thu;
- Bà Đoàn Thị Thỉnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Võ Thị Ngọc Châu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09/4/2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 866/2024/DSST ngày 04/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2025/QĐHPT-DS ngày 20 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ; Địa chỉ: Tháp BIDV S T, phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đặng Thị Hoàng Y sinh năm 1985; địa chỉ: Số A H, phường P, Quận G Thành phố Hồ Chí Minh (Quyết định Uỷ quyền tham gia tố tụng số 240/QĐ-BIDV.Q7SG ngày 20/02/2025) (có mặt)
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1977; địa chỉ: Số C M, Thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; Bản tự khai; Biên bản không tiến hành hòa giải được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và tại phiên tòa thì nội dung vụ án được xác định như sau:
- Ngày 10/10/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Q ký Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD với bà Nguyễn Thị H.
Theo hợp đồng tín dụng này, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ- Chi nhánh Q cho bà Nguyễn Thị H vay vốn với thông tin cụ thể như sau:
Số tiền cho vay: 4.200.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ hai trăm triệu đồng. Mục đích vay: H1 vốn tiền mua thửa đất số 840, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời hạn vay: 360 tháng. Lãi suất cho vay, phạt vi phạm: Lãi suất cho vay trong hạn: 9,3%/năm cố định trong 12 kể từ ngày rút vốn lần đầu tiên, Cơ chế điều chỉnh lãi suất cho vay: Bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm dân cư 12 tháng trả lãi cuối kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ + 3,5% năm. Điều chỉnh lần đầu sau 12 tháng kể từ thời điểm giải ngân đầu tiên. Sau đó lãi suất điều chỉnh 06 tháng/lần vào ngày 01/01 hoặc 01/07 hàng năm hoặc đột xuất theo quy định về lãi suất cho vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Q trong từng thời kỳ. Lãi suất nợ quá hạn: Lãi suất quá hạn áp dụng đối với nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tính trên số dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là: 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Trả nợ trước hạn và phí khác: Phí trả nợ trước hạn: Trả nợ trước hạn trong năm đầu tiên: thu 1,0% x số tiền trả nợ trước hạn. Trả nợ từ tháng 13 trở đi: thu 0,5% x số tiền trả nợ trước hạn. Phạt vi phạm: Áp dụng theo quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Lãi suất điều chỉnh kỳ đầu tiên 03/11/2023: 9,8%/năm. Lãi suất điều chỉnh kỳ tiếp theo vào ngày 01/05/2024: 9,7% năm.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ- Chi nhánh Q đã ký với bà Nguyễn Thị H Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2022/15363152/HĐBĐ được công chứng tại Văn phòng C ngày 10/10/2022 (Số công chứng 006958 Quyển số 4/2022 TP/CC-SCC/HĐGD) và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Phiếu yêu cầu đăng ký đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 10/10/2022).
Theo Hợp đồng thế chấp này, bà Nguyễn Thị H đã tự nguyện thế chấp tài sản hợp pháp cụ thể: Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 840, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL671055, số vào sổ cấp GCN: CH00688 do UBND huyện C cấp ngày 28/05/2018. Giá trị định giá tài sản tại thời điểm công chứng Hợp đồng thế chấp: 5.400.000.000 đồng.
Tính đến thời điểm 09/4/2025 nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị H như sau: là: 4.957.601.754 đồng, bao gồm: tổng nợ gốc: 4.154.725.476 đồng; tổng nợ lãi là: 802.876.278 đồng, trong đó: nợ lãi tính trên nợ gốc trong hạn: 750.643.005 đồng, số tiền lãi phạt tính trên nợ gốc quá hạn: 3.513.343 đồng, số tiền nợ lãi do chậm trả lãi trong hạn: 48.719.930 đồng.
Bà Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ thời điểm thanh toán 26/02/2024, trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ- Chi nhánh Q luôn tuân thủ các chính sách lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ cũng như Ngân hàng N theo từng thời kỳ.
Trong thời gian qua, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ Chi nhánh Q đã nhiều lần thông báo nhắc nợ, gọi điện liên hệ trực tiếp yêu cầu bà Nguyễn Thị H thực hiện nghĩa vụ đã cam kết nhưng bà Nguyễn Thị H không thực hiện.
Do việc bà Nguyễn Thị H không muốn trả nợ nhằm chiếm dụng vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ. Bà Nguyễn Thị H đã vi phạm các điều khoản cam kết tại Điều 4, Điều 7 và Điều 9 của Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD-PL ngày 28/06/2023.
Để bảo vệ quyền và lợi ích của Ngân hàng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đề nghị Quý Tòa giải quyết, buộc:
- Buộc bà Nguyễn Thị H thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 09/4/2025 là: 4.957.601.754 đồng bao gồm: tổng nợ gốc: 4.154.725.476 đồng; tổng nợ lãi là: 802.876.278 đồng, trong đó: nợ lãi tính trên nợ gốc trong hạn: 750.643.005 đồng, số tiền lãi phạt tính trên nợ gốc quá hạn: 3.513.343 đồng, số tiền nợ lãi do chậm trả lãi trong hạn: 48.719.930 đồng. Lãi tiếp tục tính kể từ ngày 10/04/2025 theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi bà Nguyễn Thị H thanh toán xong nợ vay.
- Trường hợp, bà Nguyễn Thị H không trả hoặc trả không đủ nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2022/15363152/HĐBĐ ngày 10/10/2022 để thu hồi nợ gồm: Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 840, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL671055, số vào sổ cấp GCN: CH00688 do UBND Huyện C cấp ngày 28/05/2018. Cập nhật sang tên bà Nguyễn Thị H ngày 09/06/2022.
- Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không thu hồi đủ nợ thì bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị H thực hiện nghĩa vụ trả hết số tiền trên và khoản tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có trách nhiệm xóa thế chấp và trả bản chính các giấy tờ sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 840, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL671055, số vào sổ cấp GCN: CH00688 do UBND Huyện C cấp ngày 28/05/2018. Cập nhật sang tên bà Nguyễn Thị H ngày 09/06/2022.
Bị đơn – bà Nguyễn Thị H vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Toà án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định pháp nhưng bà Nguyễn Thị H không đến, không có văn bản trình bày ý kiến.
Ý kiến của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án được giải quyết đúng thời hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 86 và Điều 234 Bộ luật Bộ luật tố tụng năm 2015.
Bị đơn – bà Nguyễn Thị H mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Như vậy, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị H phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022 thì đây là tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng".
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022 thể hiện bà Nguyễn Thị H tại thời điểm ký kết hợp đồng với nguyên đơn có địa chỉ tại Số C M, Thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Kết quả xác minh của Công an Thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh: đương sự Nguyễn Thị H sinh năm 1977 có đăng ký thường trú tại địa chỉ 307/10 M, Thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự Nguyễn Thị H đã bỏ địa phương đi đâu làm gì không rõ từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 5, Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp lại đơn khởi kiện, khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về hình thức
Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà Nguyễn Thị H các văn bản tố tụng của Tòa án tuy nhiên bị đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về yêu cầu buộc bị đơn Bà Nguyễn Thị H thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 09/4/2025 là: 4.957.601.754 đồng, bao gồm: nợ gốc: 4.154.725.476 đồng; nợ lãi là: 802.876.278 đồng (trong đó: nợ lãi tính trên nợ gốc trong hạn: 750.643.005 đồng, số tiền lãi phạt tính trên nợ gốc quá hạn: 3.513.343 đồng, số tiền nợ lãi do chậm trả lãi trong hạn: 48.719.930 đồng.)
Lãi tiếp tục tính kể từ ngày 10/4/2025 theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi bà Nguyễn Thị H thanh toán xong nợ vay.
Trường hợp, bà Nguyễn Thị H không trả hoặc trả không đủ nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2022/15363152/HĐBĐ ngày 10/10/2022 để thu hồi nợ gồm:
Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 840, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL671055, số vào sổ cấp GCN: CH00688 do UBND huyện C cấp ngày 28/05/2018. Cập nhật sang tên bà Nguyễn Thị H ngày 09/06/2022.
Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không thu hồi đủ nợ thì bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ.
Trường hợp bà Nguyễn Thị H thực hiện nghĩa vụ trả hết số tiền trên và khoản tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có trách nhiệm xóa thế chấp và trả bản chính các giấy tờ sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 840, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL671055, số vào sổ cấp GCN: CH00688 do UBND huyện C cấp ngày 28/05/2018. Cập nhật sang tên bà Nguyễn Thị H ngày 09/06/2022, căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa:
Xét, căn cứ Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022 có đủ căn cứ xác Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ ký Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD với bà Nguyễn Thị H. Theo hợp đồng tín dụng này, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ cho bà Nguyễn Thị H vay vốn với thông tin cụ thể như sau: Số tiền cho vay: 4.200.000.000 đồng. Mục đích vay: H1 vốn tiền mua thửa đất số 840, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Thời hạn vay: 360 tháng. Thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn số tiền 4.200.000.000 đồng theo bảng kê rút vốn ngày 03/11/2022.
Căn cứ vào Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017), đây là loại hợp đồng theo mẫu. Việc giao kết hợp đồng giữa các bên là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực. Nội dung thỏa thuận về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn giữa Ngân hàng và bị đơn theo hợp đồng cho vay, giấy nhận nợ là phù hợp với quy định của Ngân hàng N về việc cho vay của các tổ chức tín dụng tại Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, phù hợp với các quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015.
Để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng nói trên với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ thì bà Nguyễn Thị H đã dùng tài sản đảm bảo sau: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 840, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL671055, số vào sổ cấp GCN: CH00688 do UBND huyện C cấp ngày 28/05/2018. Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2022/15363152/HĐBĐ được công chứng tại Văn phòng C ngày 10/10/2022 (Số công chứng 006958 Quyển số 4/2022 TP/CC-SCC/HĐGD) và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Phiếu yêu cầu đăng ký đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 10/10/2022).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn là bà Nguyễn Thị H đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 262.041.299 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn là bà Nguyễn Thị H đã vi phạm Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022 nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn vào ngày 26/02/2024
Xét, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn bà Nguyễn Thị H. Tuy nhiên bị đơn bà Nguyễn Thị H không đến tòa trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho tòa nên căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn bà Nguyễn Thị H đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình, nên phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận các tài liệu chứng cứ, lời khai của nguyên đơn để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.
Do bà Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn đã thu hồi toàn bộ khoản nợ trước hạn, đồng thời chuyển toàn bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022 là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H phải thanh toán tổng số tiền tính đến 09/4/2025 là: 4.957.601.754 đồng, bao gồm: nợ gốc: 4.154.725.476 đồng; nợ lãi là: 802.876.278 đồng (trong đó: nợ lãi tính trên nợ gốc trong hạn: 750.643.005 đồng, số tiền lãi phạt tính trên nợ gốc quá hạn: 3.513.343 đồng, số tiền nợ lãi do chậm trả lãi trong hạn: 48.719.930 đồng), thanh toán làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 10/4/2025 cho đến khi thi hành án xong bà Nguyễn Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022.
[3.2] Về Xử lý tài sản bảo đảm:
Xét thấy: Các chủ thể ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, hợp đồng thế chấp phù hợp pháp luật về cả hình thức và nội dung. Do đó, yêu cầu của ngân hàng về việc trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là có căn cứ, được chấp nhận. Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Nguyễn Thị H tiếp tục có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
Ngoài ra, trường hợp bà Nguyễn Thị H đã thực hiện nghĩa vụ trả hết số tiền trên và khoản tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có trách nhiệm xóa thế chấp và trả bản chính cho bà Nguyễn Thị H giấy tờ sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL671055, số vào sổ cấp GCN: CH00688 do UBND huyện C cấp ngày 28/05/2018. Cập nhật sang tên bà Nguyễn Thị H ngày 09/06/2022.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Bị đơn phải chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
[5] Về án phí:
Bị đơn bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 157, 158, Điều 271, 273, 277 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Các Điều: 117, 119, 327, 465, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 ngày 29/12/2006.
- - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014,
Xử:
- Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị H.
- Về nội dung:
- 2.1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
Buộc bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tổng số tiền tính đến 09/4/2025 là: 4.957.601.754 đồng, bao gồm: nợ gốc: 4.154.725.476 đồng; nợ lãi là: 802.876.278 đồng (trong đó: nợ lãi tính trên nợ gốc trong hạn: 750.643.005 đồng, số tiền lãi phạt tính trên nợ gốc quá hạn: 3.513.343 đồng, số tiền nợ lãi do chậm trả lãi trong hạn: 48.719.930 đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022.
Trả ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- 2.2. Kể từ ngày 10/4/2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- 2.3. Trường hợp bà Nguyễn Thị H không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 840, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL671055, số vào sổ cấp GCN: CH00688 do UBND huyện C cấp ngày 28/05/2018.
- 2.4. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản được dùng để thanh toán các khoản nợ gốc và lãi của bà Nguyễn Thị H đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/15363152/HĐTD ngày 10/10/2022. Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Nguyễn Thị H tiếp tục có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
Trường hợp sau khi phát mãi các tài sản đảm bảo để thu hồi số nợ là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 840, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL671055, số vào sổ cấp GCN: CH00688 do UBND huyện C cấp ngày 28/05/2018 để thanh toán cho khoản nợ của bà Nguyễn Thị H mà số tiền thu được từ việc phát mãi các quyền sử dụng đất này còn dư thì Ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị H.
- 2.5. Trường hợp bà Nguyễn Thị H đã thực hiện nghĩa vụ trả hết số tiền trên và khoản tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có trách nhiệm xóa thế chấp và trả bản chính các giấy tờ sau: Bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL671055, số vào sổ cấp GCN: CH00688 do UBND huyện C cấp ngày 28/05/2018. Cập nhật sang tên bà Nguyễn Thị H ngày 09/06/2022.
- 2.1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
- Về chi phí tố tụng:
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 15.000.000 đồng; Bị đơn bà Nguyễn Thị H tự nguyện chịu. Nguyên đơn đã nộp số tiền 15.000.000 đồng theo phiếu thu số số 225 ngày 07/01/2025 của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn bà Nguyễn Thị H phải hoàn trả số tiền 15.000.000 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 112.957.602 đồng.
Lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.271.145 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0036861 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn bà Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 1, 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Xuân Duyên |
Bản án số 40/2025/DS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 40/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
