TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
| CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 40/2025/DS-PT Ngày 23 - 5-2025 V/v: Tranh chấp chia di sản thừa kế. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trường Du
Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương
Ông Lê Ngọc Lâm
Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Thu Trang - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên
Trong các ngày 22 và 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 127/2024/TLPT-DS ngày 27/11/2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá bị kháng cáo và Kháng nghị theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐ-PT ngày 02/01/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Mai Thị Thu H, sinh năm 1962;
Nơi thường trú: SN E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Nơi ở hiện tại: S T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng S, sinh năm 1975;
Nơi thường trú: SN 124 T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Bị đơn: Ông Hồ Ngọc H1, sinh năm 1968; Nơi thường trú: SN E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Phòng C1 Thanh Hóa .
Địa chỉ: SN C, đường Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện theo pháp luật: Bà Trịnh Thị Hồng M – Chúc vụ- Trưởng phòng phụ trách. Có đơn Vắng mặt
Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1982;
Nơi thường trú: S T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1985.
Nơi thường trú: SN A Q, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị H2; chị Nguyễn Thị Lan A:
Ông Nguyễn Trọng S, sinh năm 1975;
Nơi thường trú: SN 124 T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Bà Trịnh Thị H3, sinh năm 1972;
Nơi thường trú: SN E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Ông Mai Trọng B.
Nơi thường trú: SN 82D8, khu phố D, B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
Ngân hàng N – Chi nhánh S1, Nam T .
Địa chỉ: SN B đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn A1 - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh. Có đơn Vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Phạm Văn T – sinh năm 1968.
Địa chỉ: Số nhà B, đường L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn Vắng mặt.
* Do bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá bị kháng cáo của bị đơn và Kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh Hoá.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/11/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Mai Thị Thu H trình bày: Bố mẹ của bà là cụ Mai Xuân T1 và cụ Lê Thị O (tên gọi khác là Lê Thúy O1), trước đây các cụ ở với nhau không có đăng ký kết hôn, năm 1962 sinh được mình bà. Đến năm 1965 cụ T1 chết. Đến năm 1967 cụ O1 có qua lại với cụ Hồ Ngọc Q và sinh được 02 người con là ông Hồ Ngọc H1, sinh năm 1968 và ông Hồ Ngọc T2, sinh năm 1971 (ông Hồ Ngọc T2 được Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tuyên bố đã chết theo QĐ số 04/2021/DS ST ngày 29/11/2021. Thời điểm cụ O1 qua lại với cụ Q thì cụ Q đã có vợ, con nên hai người không ở với nhau.
Nhà đất số E đường N, phường B, thành phố T có nguồn gốc; do cụ Lê Thị O đổi số nhà A phố L, phường B, thành phố T cho cụ Nguyễn Thị L, thời điểm vào khoảng tháng 01 năm 1986, sau khi đổi cụ và 03 người con cùng về đó ở. Năm 1982 bà lấy chồng ra ở riêng được thời gian vợ chồng bà có mâu thuẫn đến năm 1985 bà và hai con lại trở về ở với cụ O tại nhà số E, đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, đến năm 2004 con gái bà là chị Nguyễn Thị H2 lấy chồng, năm 2006 chị Nguyễn Thị Lan A lấy chồng thì bà có ra thuê nhà ở và đi lại chăm sóc cụ O. Năm 2014, cụ O chết để lại di sản gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà cấp 4, mái bằng xây dựng trên diện tích 108 m² tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 04, địa chỉ: Số nhà E, đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSD đất) số 2701060686, vào sổ cấp Giấy CNQSD đất số 03340 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999 có nhà ở 2 tầng. Toàn bộ di sản của cụ O để lại vợ chồng ông H1 đang quản lý. Sau khi cụ O chết được thời gian thì giữa bà và ông Hà Ngọc H4 có bàn bạc với nhau để chia di sản của cụ O, nhưng ông H4 xuất trình bản di chúc ngày 24/4/2009 công chứng tại Phòng C2 và yêu cầu bà phải thực hiện đúng di chúc. Do di chúc không hợp pháp, không đúng quy định pháp luật, bởi vì di chúc đã sử dụng Giấy CNQSD đất số 517 RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989, diện tích 127m2, địa chỉ: số nhà B P, phường B, thị xã T (đã được Nhà nước thu hồi hết hiệu lực pháp luật) vì tại thời điểm lập di chúc đã có Giấy CNQSD đất số 2701060686, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 03340 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999, có nhà ở 2 tầng, hiện tại đang thế chấp tại Ngân hàng N – Chi nhánh số 2 nhưng khi chứng nhận di chúc Công chứng viên đã bỏ qua thủ tục xác minh tính hợp pháp về các giấy tờ liên quan và sự trung thực của người cung cấp thông tin tài sản là trái quy định của pháp luật. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi ích, bà yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
- Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xem xét tính hợp pháp và trung thực của di chúc, không công nhận bản di chúc của cụ Lê Thị O xác lập ngày 24/4/2009 được thực hiện tại Phòng Công chứng số 01 Thanh Hóa, do Công chứng viên Mai Trọng B chứng nhận ngày 24/4/2009.
- Yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế là nhà đất số E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, đã được cấp Giấy CNQSD đất số 2701060686, vào số cấp Giấy CNQSD đất số 03340 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999 theo pháp luật. Yêu cầu được hưởng giá trị tài sản là đất và không yêu cầu phần công trình kiến trúc trên đất của cụ Lê Thị O để lại.
Tại bản tự khai ngày 30/01/2023 và các tài liệu khác của bị đơn ông Hồ Ngọc H1 đã trình bày: Ông và bà Mai Thị Thu H có quan hệ là chị em cùng mẹ khác cha, mẹ ông là cụ Lê Thị O kết hôn với cụ Mai Xuân T1, năm 1962 sinh được bà Mai Thị Thu H, năm 1965 cụ T1 chết. Đến năm 1967 cụ O ở với cụ Hồ Ngọc Q và sinh hạ được 02 người con là Hồ Ngọc H1, sinh năm 1968 và Hồ Ngọc T2, sinh năm 1971, (Hồ Ngọc T2 được Tòa án tuyên bố đã chết). Năm 1974, ông được nghe cụ O nói bố mẹ ông có ly hôn nhưng thời điểm mẹ ông ở với cụ Q thì cụ Q đang có vợ và có con. Trước đây cụ O và các con cùng ở với nhau tại số nhà A phố L, phường B, thị xã T. Năm 1982 bà H đi lấy chồng về thôn B xã Đ, (nay là phường Đ, thành phố T) lúc bây giờ chỉ còn 03 mẹ con ở với nhau.
Đến tháng 1/1986 cụ O đổi nhà cho cụ Nguyễn Thị L, gia đình chuyển về ở tại số nhà E N, phường B, thành phố T. Năm 1989 ông T2 bỏ nhà đi đâu không rõ, chỉ còn ông và cụ O ở và quản lý nhà đất nói trên, đến năm 2014 cụ O chết. Trước khi cụ O chết ngày 24/4/2009 cụ đã lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất tại E đường N, phường B, thành phố T đứng tên cụ Lê Thúy O1, theo Giấy CNQSD đất số 517 RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989, diện tích sử dụng 127m², cho ông sở hữu và sử dụng, nhưng phải giao lại cho bà H 300.000.000 đồng, cho chị H2 và chị Lan A mỗi người 100.000.000 đồng khi ông bán nhà.
Thời điểm cụ O1 lập di chúc thì tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng theo giấy CNQSD đất cấp mới số 2701060686, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 03340 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999 mang tên Lê Thúy O1. Khi làm Giấy CNQSD đất mới năm 1999 thì UBND tỉnh T có thu Giấy CNQSD đất số 517 RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989, để cấp Giấy CNQSD đất số 2701060686, nhưng gia đình vẫn được giữ một bản công chứng Giấy CNQSD đất cũ số 517 RÐ nên cụ O1 đã mang đi chứng thực Di chúc.
Lý do cụ Lê Thị O sử dụng Giấy CNQSD đất số 517 RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 để lập di chúc là vì Giấy CNQSD đất mới (cấp ngày 30/9/1999) diện tích còn thiếu (19m²) so với giấy cũ, không đúng với diện tích sử dụng thực tại, để bảo vệ quyền lợi và tránh việc tranh chấp, kiện tụng cho các thành viên trong gia đình và tranh chấp ranh giới sau này.
Khi cụ O ốm đau ở với vợ chồng ông, do vợ chồng ông chăm sóc là chủ yếu còn bà H thì thỉnh thoảng mới đến, ông đi làm cả ngày nên cũng không rõ bà H đến lúc nào. Khi cụ O chết thì ông và bà H không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào cho cụ O. Vì do cụ O là Thanh niên xung phong nên được Nhà nước hỗ trợ tiền mai táng phí khoảng hơn 10.000.0000đ, còn những công việc khác thì mỗi người chung tay vào một ít. Riêng việc cụ O bảo lãnh tài sản số nhà đất số E đường N, phường B, thành phố T cho ông vay tiền Ngân hàng N – Chi nhánh S1 để sử dụng vào công việc riêng, thì ông có trách nhiệm trả.
Hiện nay di sản của cụ O để lại là nhà đất tại địa chỉ; số nhà E N, phường B, thành phố T vợ chồng ông đang quản lý sử dụng. Nay bà Mai Thị Thu H khởi kiện yêu cầu xem xét tính hợp pháp của di chúc không công nhận bản di chúc của cụ Lê Thị O lập ngày 24/4/2009 và yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ O để lại, ông không đồng ý, vì cụ O đã lập di chúc hợp pháp định đoạt giao tài sản cho ông và ông có trách nhiệm giao cho bà H số tiền 300.000.000 đồng, chị H2 và chị Lan A mỗi người 100.000.000 đồng nhưng vì ông chưa bán được nhà nên chưa thanh toán lại số tiền này.
Ý kiến của chị Nguyễn Thị H2 và chị Nguyễn Thị Lan A: Quan hệ giữa các chị với cụ O là bà và cháu ngoại. Trong di chúc ngày 24/4/2009 các chị có quyền lợi mỗi người được hưởng 100.000.000 đồng, nay các chị cho rằng di chúc này không đúng nội dung trái với quy định Pháp luật nên các chị thống nhất với ý kiến của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xem xét tính hợp pháp của di chúc, không công nhận bản di chúc của cụ Lê Thi O2 lập ngày 24/4/2009 tại Phòng C1 Thanh Hóa. Nếu Tòa án phân chia di sản thừa kế của cụ O2 để lại theo quy định của pháp luật, các chị không có ý kiến gì, trong thời gian các chị ở với cụ O2, không đóng góp tôn tạo gì vào di sản của cụ O2 nên không yêu cầu xem xét công sức.
Ý kiến của Phòng C2: Ngày 24/4/2009 Phòng C2 có lập hợp đồng công chứng di chúc của cụ Lê Thị O, theo tài liệu lưu trữ di chúc được vào sổ công chứng số 05, quyền số 01 ngày 24/4/2009 đúng theo quy định Pháp luật. Thời điểm cụ O lập di chúc trong tìn trạng minh mẫn, di chúc đã được đọc lại toàn bộ công nhận di chúc được ghi ché đầy đủ đúng với ý chí của cụ Lê Thị O. Nay bà Mai Thị Thu H khởi kiện yê cầu xem xét tính hợp pháp của di chúc nêu trên quan điểm của Phòng Công chứn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Ý kiến của ông Mai Văn B1: (BL 168) Năm 2009, khi còn làm việc tại Phòng C1 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, tôi có tiếp nhận và công chứng bản di chúc của bà Lê Thúy O1 (Lê Thị O) – sinh năm 1942, địa chỉ: SN E N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Theo đó, di chúc được lập tại số nhà E N có nội dung bà Lê Thúy O1 để lại thừa kế cho con trai là Hồ Ngọc H1 căn nhà ở và 127m2 đất ở tại số nhà E N, phường B, thành phố T, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 517RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 mang tên Lê Thúy O1.
Tại thời điểm công chứng di chúc, tôi được biết rằng, căn nhà đất số E N đang thế chấp tại Ngân hàng và Ngân hàng đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của căn nhà này. Khi yêu cầu công chứng di chúc, bà Lê Thúy O1 đã xuất trình bản sao có công chứng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 517RĐ do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 mà không xuất trình bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của căn nhà E N, Phường B, thành phố T với lý do bà trình bày bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của căn nhà này đang thế chấp tại N. Do từng công chứng hợp đồng thế chấp của bà Lê Thúy O1 đối với căn nhà này và không biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp đổi nên tôi nghĩ rằng bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 517RÐ do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 mà bà Lê Thúy O1 xuất trình được sao từ bản chính mà Ngân hàng đang giữ nên tôi đã công chứng di chúc cho bà Lê Thúy O1 căn cứ theo bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Sau này, khi bà Mai Thị Thu H là con gái của bà Lê Thúy O1 khiếu nại việc công chứng bản di chúc này thì tôi mới biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 517RÐ do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 cho bà Lê Thúy O1 đã bị thu hồi năm 1999 để UBND tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới số 2701060686 thay thế cho giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 517 RÐ. Như vậy, bà Lê Thúy O1 đã không trung thực khi xuất trình bản sao của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ mà Nhà nước đã thu hồi, cấp đổi năm 1999 để yêu cầu công chứng di chúc. Do tin vào việc căn nhà 55 N chỉ có một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất duy nhất chưa cấp đổi và bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà Lê Thúy O1 xuất trình đúng với bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng, đồng thời do tin vào bà Lê Thúy O1 trung thực khi xuất trình hồ sơ, giấy tờ nên tôi đã không xác minh, kiểm tra, đối chiếu lại với bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Ngân hàng dẫn đến đã công chứng di chúc cho bà Lê Thúy O1 căn cứ vào bản sao của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ số 517RÐ do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989. Do bà Lê Thúy O1 gian dối trong việc cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để yêu cầu công chứng nên dẫn đến việc công chứng có sai sót khi công chứng nội dung di chúc để lại thừa kế căn nhà E N với diện tích đất 127,0 m² theo giấy chứng nhận quyền dụng đất số 517RĐ do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989, trong khi giấy chứng nhận quyền dụng đất số 517RÐ do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 đã được thu hồi và căn nhà 55 N đã được UBND tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới số 2701060686 ngày 30/9/1999 với tích đất là 108,0 m². Trên đây là bản trình bày của tôi liên quan đến việc Công chứng di chúc của bà Lê Thúy O1 lập ngày 24/4/2009. Tôi xin cam đoan nội dung trình bày trên là đúng sự thật, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Kính đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Tôi xin trân trọng cảm ơn
Ý kiến của Ngân hàng A2 - Chi nhánh S1: Ông Hồ Ngọc H1 vay tiền của Ngân hàng A2 Chi nhánh số 2 Nam T, thời điểm thế chấp 03/8/2006 trở về trước, tài sản là nhà đất tại E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy CNQSD đất số 2701060686 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999 thửa đất số 25, tờ bản đồ số 04, diện tích 108m² chủ sở hữu Lê Thúy O1 là tài sản hợp pháp đã được công chứng hợp đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Ngày 28/9/2017 ông Hồ Ngọc H1 đã trả hết nợ tất toán hợp đồng tín dụng và đã nhận lại bản chính Giấy CNQSD đất số 2701060686 do UBND thành phố T cấp ngày 30/9/1999. Thời điểm cụ Lê Thị O lập di chúc tại Phòng C1 Thanh Hóa ngày 24/4/2009, Ngân hàng A2 Chi nhánh số 2 Nam T đang niêm phong và lưu giữ bản gốc Giấy CNQSD đất số 2701060686 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999 tại kho tiền của Ngân hàng, không cung cấp bản gốc Giấy CNQSD đất trên ra bên ngoài.
Đối với bà Trịnh Thị H3, trong quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án triệu tập, gửi thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà H3 vắng mặt do vậy, Tòa án không tiến hành lấy lời khai được. Tại phiên tòa bà H3 có ý kiến bà là vợ ông Hồ Ngọc H1 ( là con dâu cụ Lê Thị O) bà và ông H1 kết hôn với nhau năm 1995 và ở cùng với gia đình bà O tại E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, đến năm 2014 bà O chết, vợ chồng bà vẫn ở trên tài sản nhà đất tại E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, quá trình vợ chồng bà ở có sửa sang lại những thứ lặt vặt cho nhà đỡ dột nát, nay bà không yêu cầu gì. Bà được biết khi bà O còn sống đã lập di chúc ngày 24/4/2009 tại phòng C1 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa di chúc cho ông Hồ Ngọc H1 toàn bộ di sản nhà đất trên. Nay bà không đồng ý với việc bà Mai Thị Thu H khởi kiện xem xét tính hợp pháp của di chúc ngày 24/4/2009 và yêu cầu chia di sản thừa kế nhà đất tại E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đã được cấp Giấy CNQSD đất số 2701060686, vào sổ cấp Giấy CNQSD đất số 03340 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999 mang tên Lê Thúy O1.
* Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 5 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 71; Điều 72; khoản 4 Điều 68 và Điều 73 của BLTTDS. Căn cứ Điều 652; Điều 675; Điều 676 của BLDS năm 2005; Điều 630; Điều 650 và Điều 651 của BLDS năm 2015. Căn cứ Điều 106; Điều 113 của Luật Đất đai năm 2003, Điều 27 và Điều 45 của Luật Đất đai năm 2024, Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 12, điểm a Khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Thu H, xác định di chúc của cụ Lê Thị O (Lê Thúy O1) lập ngày 24/4/2009 không hợp pháp.
Xác định nhà, đất số E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, diện tích đất ở: 117,6m², trị giá 16.464.000.000 đồng, trị giá nhà: 365.789.690 đồng. Tổng = 16. 829.789.690 đồng (mười sáu tỷ, tám trăm hai chín triệu, bảy trăm tám chín ngàn, sáu trăm chín mươi đồng) là di sản thừa kế của cụ Lê Thị O (Lê Thúy O1) để lại.
Trích công sức cho ông Hồ Ngọc H1 được hưởng 1.624.000.000 đồng (một tỷ, sáu trăm hai bốn triệu đồng) tương ứng với 11,6m² đất ở.
Chia cho bà Mai Thị Thu H được hưởng: 7.420.000.000 đồng (Bảy tỉ, bốn trăm hai mươi triệu đồng) tương đương với 53m² đất ở, tại số nhà E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị Thu H không hưởng giá trị phần nhà được chia.
Chia cho ông Hồ Ngọc H1 được hưởng: 7.420.000.000 đồng, (Bảy tỉ, bốn trăm hai mươi triệu đồng) tương đương với 53m² đất ở và toàn bộ nhà, công trình kiến trúc xây dựng trên đất tại số nhà E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Như vậy, ông Hồ Ngọc H1 được hưởng 7.785.789.690 đồng, (Bảy tỉ, bảy trăm tám mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm chin mươi đồng).
Tổng giá trị ông Hồ Ngọc H1 được chia, được hưởng nhà, đất và công sứ trong khối di sản thừa kế là 9.409.789.690 đồng (chín tỷ, bốn trăm lẻ chín triệu, bảy trăm tám chín ngàn, sáu trăm chín mươi đồng).
Giao cho ông Hồ Ngọc H1 được quyền sở hữu và sử dụng nhà, đất số E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, (là di sản thừa kế) nhưng ông H1 phải có trách nhiệm thanh toán lại cho bà M1 Th Thu H5 số tiền bà H5 được hưởng kỷ phần thừa kế là 7.420.000.000 đồng (Bảy tỉ bốn trăm hai mươi triệu đồng).
Ông Hồ Ngọc H1 có quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoàn thiện thủ tục cấp Giấy CNQSD đất theo quy định của pháp luật.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Mai Thị Thu H có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền được chia, nếu ông Hồ Ngọc H1 không thi hành được hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của BLDS.
Án sơ thẩm còn quyết định về chi phí định giá tài sản, xem xét thẩm định, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm ông Hồ Ngọc H1 là bị đơn có kháng cáo đề nghị huỷ bản án sơ thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm ông H1 thay đổi nội dung kháng cao như sau: Sửa bản án sơ thẩm công nhận di chúc của mẹ ông bà Lê Thị O lập ngày 24/4/2009 là hợp pháp nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Thu H.
* Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hoá có Quyết định kháng nghị số 11/QĐ-VKS-DS ngày 7/10/2024: về việc kháng nghị Bản án dân sự sơ thẩm 48/2024/DS-ST, ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về “Tranh chấp về chia di sản thừa kế” nội dung:
Bản án sơ thẩm trên có vi phạm nghiêm trọng về nội dung trong việc đánh giá tài liệu, chứng cứ là thiếu toàn diện, khách quan, phiến diện dẫn đến Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá, nhân định và quyết định bản di chúc của cụ Lê Thị O lập ngày 24/4/2009 không hợp pháp là không đúng với quy định tại khoản 1 Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015, xâm phạm đến quyền và lợi hợp pháp của người được thừa kế theo di chúc ông Hồ Ngọc H1. Viện kiểm sát kháng nghị toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm trên và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử phúc thẩm vụ án và sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST, ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về “Tranh chấp về chia di sản thừa kế” trên theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của nguyên đơn bà Mai Thị Thu H.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa ( Có văn bản kèm theo hồ sơ vụ án).
- Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Thư ký đều tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Xét kháng cáo của đương sự: Tại phiên toà Ông Hồ Ngọc H1 thay đổi nội dung kháng cáo từ huỷ bản án sơ thẩm thành đề nghị sửa bản án sơ thẩm, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Theo các tài liệu, chứng cứ hồ sơ vụ án thể hiện: Di sản mà cụ Lê Thị O để lại có 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số nhà E N, phường B, thành phố T. Dù qua các thời kỳ được cấp GCNQSDĐ năm 1989 hay cấp đổi GCNQSDĐ năm 1999 thì các GCNQSDĐ trên đều là chứng thư pháp lý để xác nhận quyền sử dụng, sở hữu nhà đất trên là của cụ O, cụ O vẫn là chủ sở hữu duy nhất đối với tài sản trên. Việc cụ O lập di chúc vào ngày 24/4/2009 định đoạt đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số nhà E N, phường B, thành phố T là hợp pháp, vì tại thời điểm đó cụ O vẫn là chủ sở hữu đối với tài sản trên. Việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cụ O cung cấp thông tin, tài liệu đã hết hiệu lực cho Công chứng viên chứng nhận vào di chúc là trái pháp luật là không có căn cứ. Việc di chúc có sai sót về năm cụ O mua nhà (năm 1996), thực tế cụ O mua đổi nhà (năm 1986) và việc cụ O cung cấp thông tin theo GCNQSDĐ cũ (năm 1989) chỉ thể hiện sai sót về mặt hình thức trong quá trình lập di chúc, nó không làm thay đổi về bản chất nội dung định đoạt tài sản trong bản di chúc chứ không thể xác định là do cụ O không còn minh mẫn. Di chúc được lập trước khi cụ O mất 05 năm và Phòng C2 Thanh Hóa đã xác nhận việc cụ O lập di chúc trong tình trạng minh mẫn, tỉnh táo. Bên cạnh đó, di chúc của cụ O còn có người làm chứng là ông Phạm Văn T, sinh năm 1968, só địa chỉ thường trú: Số nhà B L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định Công chứng viên không yêu cầu người lập di chúc làm rõ hoặc phải xác minh tính hợp pháp của các tài liệu có liên quan để xác định tính minh bạch là vi phạm Điều 48 Luật Công chứng số 82/2006/QH11, ngày 29/11/2006. Khoảng 2 Điều 48 Luật Công chứng năm 2006 chỉ quy định Công chứng viên “Tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định” trong trường hợp “Công chứng viên nghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép”. Tuy nhiên, theo lời khai của Công chứng viên là ông Mai Văn B1 thì cụ O đang minh mẫn, việc lập di chúc được lập tại nhà cụ O, cụ cũng có bản sao của GCNQSDĐ (được chứng thực bởi Phòng Công chứng số 01 tỉnh Thanh Hóa ngày 08/10/2003). Như vậy, việc Công chứng viên không yêu cầu bà O phải làm rõ hoặc phải xác minh tính hợp pháp của các tài liệu có liên quan là không vi phạm Điều 48 Luật Công chứng năm 2006. Vậy, Tóa án cấp sơ thẩm nhận định và tuyên bản di chúc của cụ Lê Thị O (Lê Thúy O1) lập ngày 24/4/2009 không hợp pháp là không đúng với quy định tại khoản 1 Điều 652, Điều 667 Bộ luật dân sự năm 2005 (tương ứng khoản 1 Điều 630, Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2015), Điều 106, Điều 113 Luật đất đai năm 2003 (tương ứng Điều 167, Điều 188 Luật đất đai năm 2013 và Điều 27, Điều 45 Luật đất đai năm 2024), đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là ông Hồ Ngọc H1. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và kháng cáo của bị đơn ông Hồ Ngọc H1 đối với bản án dân sự sơ thẩm trên là có căn cứ pháp luật.
Do tài liệu, chứng cứ hồ sơ vụ án đã được thu thập đầy đủ, khách quan, toàn diện và có căn cứ pháp luật nên cần sửa bản án sơ thẩm trên theo hướng không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật.
Đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật người cao tuổi năm 2009; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26, điểm a khoản 7 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị Quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phíTòa án. Đề nghị HĐXX:
Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 11/QĐ-VKS-DS, ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo hướng sửa bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST, ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa là không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Thu H trong vụ án. Tại phiên toà ông H1 thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật và đề nghị công nhận di chúc của bà Lê Thị O trong vụ án là có căn cứ pháp luật.
Về án phí DSPT: Ông H1 không phải nộp án DSPT, Bà H là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí DSPT.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến, tranh luận của các đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định.
Về thời hiệu khởi kiện: Bà O chết năm 2014. Ngày 12 tháng 7 năm 2023 bà Mai Thị Thu H khởi kiện yêu cầu xác định di chúc do cụ Lê Thị O lập ngày 24/4/2009 không hợp pháp, chia di sản thừa kế của bà O để lại theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS thì thời hiệu chia di sản thừa kế vẫn còn, như cấp sơ thẩm đánh giá xác định là đúng.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, tại phiên toà phúc thẩm bị đơn ông Hồ Ngọc H1 thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá giữ nguyên kháng nghị, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự không có thỏa thuận được với nhau về các nội dung tranh chấp nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về kháng nghị của Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hoá, kháng cáo của ông Hồ Ngọc H1 về việc cấp sơ thẩm không đưa ông Phạm Văn T vào làm chứng. Tại cấp phúc thẩm thấy rằng việc đưa ông Phạm Văn T vào tham gia tố tụng là người làm chứng là có căn cứ, nên chấp nhận bổ sung ông Phạm Văn T tham gia với tư cách là người làm chứng.
Xét nội dung kháng cáo, kháng nghị:
- Xét về tính hợp pháp của di chúc:
Cấp sơ thẩm nhận định:
“Thứ nhất: thời điểm cụ Lê Thị O lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho con trai, rõ ràng cụ biết là Giấy CNQSD đất cấp cho cụ năm 1989 bị thu hồi và đã được UBND tỉnh T cấp đổi mới là Giấy CNQSD đất số 2701060686, ngày 30/9/1999, diện tích đất ở 108,0m², hiện tại đang được Ngân hàng A2 Chi nhánh số 2 Nam T niêm phong và lưu giữ bản gốc để thực hiện hợp đồng bão lãnh khoản tiền vay. Tuy nhiên, cụ vẫn cung cấp thông tin, tài liệu (đã hết hiệu lực) cho Công chứng viên thực hiện chứng nhận vào di chúc là (trái pháp luật), ngoài ra cụ còn xác định thời điểm (mua căn nhà số E N vào năm 1996 tức mua sau khi cấp giấy lần đầu) là thể hiện cụ không minh mẫn.
Thứ hai; đối với Công chứng viên sau khi tiếp nhận bản sao Giấy CNQSD đất đã không đúng nhưng không yêu cầu người lập di chúc làm rõ hoặc phải xác minh tính hợp pháp của các tài liệu có liên quan để xác thực tính minh minh bạch là vi phạm Điều 48 Luật Công chứng số 82/2006/QH11 ngày 29/11/2006.
Đối chiếu với các nội dung nêu trên, căn cứ Điều 652 của BLDS năm 2005 và Điều 630 của BLDS năm 2015 đủ cơ sở chứng minh thời điểm lập di chúc của cụ Lê Thị O trạng thái không minh mẫn, nội dung của di chúc trái với pháp luật, vi phạm điều cấm”
Cấp sơ thẩm đánh giá bản di chúc của cụ Lê Thị O không hợp pháp là phù hợp nhưng đánh giá bà O không minh mẫn khi lập di chúc là chưa chặt chẽ, việc đánh giá về tài liệu của người yêu cầu công chứng, trách nhiệm của người yêu cầu công chứng cũng như trách nhiệm của công chứng viên khi thực hiện công chứng có vi phạm đã được cấp sơ thẩm đánh giá vi phạm Điều 48 Luật công chứng năm 2006 là có cơ sở.
Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Văn bản di chúc của bà Lê Thị O ngày 24/4/2009 có công chứng tại Văn phòng công chứng số I tỉnh T. Sự lựa chọn công chứng cho văn bản di chúc là quyền của người lập di chúc theo quy định tại 650, Điều 657 Bộ luật Dân sự 2005, khi lựa chọn công chứng cho văn bản di chúc thì thủ tục công chứng văn bản di chúc phải thực hiện đầy đủ quy định về trình tự thủ tục công chứng theo luật công chứng. Văn bản di chúc công chứng ngày 24/4/2009 thì Luật Công chứng năm 2006 đang có hiệu lực thi hành, nên HĐXX sẽ căn cứ Luật Công chứng năm 2006 để xem xét đánh giá tính hợp pháp.
Hồ sơ yêu cầu công chứng di chúc của bà O được Văn phòng C Thanh hoá cung cấp gồm các tài liệu: Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng văn bản ngày 24/4/2009 của bà Lê Thị O, Tài liệu nộp kèm theo phiếu ghi: Di chúc; Chứng minh thư nhân dân mang tên Lê Thị O và Phạm Văn T ; 01bản phôtô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 517RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 mang tên Lê Thúy O1; 01bản sao công chứng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 517RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 mang tên Lê Thúy O1 ( công chứng ngày 08/10/2003).
Trong văn bản di chúc ngày 24/4/2009 ghi tên là bà Lê Thúy O1 ( Lê Thị O), phần ký tên: Lê Thị O. Phần công chứng xác nhận ghi tên: bà Lê Thúy O1 ( Lê Thị O), sinh năm 1942, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 517RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 mang tên Lê Thúy O1, nơi ở: Số nhà B P, phường B, thị xã T, Giấy chứng minh thư nhân dân số [...] tên Lê Thị O, nơi thường trú: 25 N, thị xã T ( hai tài liệu có trong hồ sơ công chứng), trong văn bản di chúc ghi địa chỉ bà Lê Thúy O1 ( Lê Thị O), Thường trú tại: SN E N - P. B - thành phố T. Như vậy, các tài liệu có trong hồ sơ công chứng và trong văn bản di chúc công chứng ngày 24/4/2009 có nhiều nội dung về nhân thân, địa chỉ không trùng nhau nhưng trong hồ sơ công chứng không có tài liệu nào chứng minh làm rõ, không có tài liệu nào thể hiện công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng làm rõ trước khi Công chứng là vi phạm Điều 35 Luật công chứng 2006.
Tại hồ sơ thế chấp vay vốn tại Chi nhánh số 2 Ngân hàng N1 thì tại Đơn đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 03/8/2006 và Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 03/8/2006 do bà Lê Thúy O1 ký tên để thế chấp tài sản cho ông Hồ Ngọc H1 vay vốn là: quyền sử dụng đất thửa đất số 25, tờ bản đồ 04, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số phát hành 2701060686 số vào sổ cấp 033340 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999 cho bà Lê Thúy O1, địa chỉ tại số E N, B, Thành phố T.( BL106; 107, 108) .
Tại thời điểm bà O1 công chứng văn bản di chúc tại Phòng công chứng số 1Thanh Hoá do công chứng viên Mai Trọng B thực hiện thì tài liệu do bà O1 cung cấp là bản sao GCNQSD đất số 517RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 mang tên Lê Thúy O1 và được ghi trong văn bản di chúc lập ngày 24/4/2009. Theo lời khai của công chứng viên ông Mai Trọng B và người làm chứng Phạm Văn T đều ghi nhận bà O1 minh mẫn khi lập di chúc, như vậy bà O1 phải biết được là GCNQSD đất bà cung cấp cho công chứng viên nêu trên đã được thay thế bằng GCNQSD đất mà bà đã ký thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 03/8/2006 cho ông Hồ Ngọc H1 vay vốn, và tài sản bà lập di chúc hiện đang thế chấp tại Ngân hàng bảo lãnh cho ông Hồ Ngọc H1 vay tiền, từ đó dẫn đến công chứng viên công chứng văn bản di chúc theo GCNQSD đất đã hết hiệu lực là vi phạm điều cấm về cung cấp thông tin, văn bản khi thực hiện công chứng các văn bản là tài sản mà phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng.( Điều 12 Luật công chứng 2006).
Ý kiến của Ngân hàng A2 Chi nhánh số 2 Nam T: Ông Hồ Ngọc H1 vay tiền của Ngân hàng A2 Chi nhánh số 2 Nam T, thời điểm thế chấp ngày 03/8/2006 tài sản là nhà đất tại E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy CNQSD đất số 2701060686 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999 thửa đất số 25, tờ bản đồ số 04, diện tích 108m² chủ sở hữu Lê Thúy O1 là tài sản hợp pháp đã được công chứng hợp đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Đến ngày 28/9/2017 ông Hồ Ngọc H1 đã trả hết nợ tất toán hợp đồng tín dụng và đã nhận lại bản chính Giấy CNQSD đất số 2701060686 do UBND thành phố T cấp ngày 30/9/1999. Thời điểm cụ Lê Thị O lập di chúc tại Phòng C2 ngày 24/4/2009, Ngân hàng A2 Chi nhánh số 2 Nam T đang niêm phong và lưu giữ bản gốc Giấy CNQSD đất số 2701060686 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999 tại kho tiền của Ngân hàng, không cung cấp bản gốc Giấy CNQSD đất trên ra bên ngoài.
Lời khai của Mai Trọng B là công chứng viên công chứng bản di chúc cho bà O thể hiện: “……khi lập di chúc, ông yêu cầu bà O cung cấp bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bà O cho biết về việc giấy chứng nhận đang thế chấp tại Ngân hàng để vay vốn...” “...khi bà O cung cấp bản sao công chứng GCNQSD đất số 517RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 mang tên Lê Thúy O1 thì ông ký di chúc mà không kiểm tra....” theo quy định tại Điều 35 Luật công chứng năm 2006, thì trách nhiệm của Công chứng viên phải xem xét tính hợp pháp của giấy tờ liên quan đến tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, theo lời khai của ông B( Công chứng viên) thì bà O1 đã thông tin cho ông về việc bản gốc GCNQSD đất bà đang thế chấp tại Ngân hàng, như vậy ông B đã biết về tài sản trong di chúc mà bà O1 yêu cầu công chứng đang thế chấp tại ngân hàng thì ông là công chứng viên phải có trách nhiệm làm rõ nội dung này trước khi công chứng, hoặc từ chối công chứng, ông B cho rằng “ ... Do từng công chứng hợp đồng thế chấp của bà Lê Thúy O1 đối với căn nhà này và không biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp đổi nên tôi nghĩ rằng bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 517RÐ do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 mà bà Lê Thúy O1 xuất trình được sao từ bản chính mà Ngân hàng đang giữ nên tôi đã công chứng di chúc cho bà Lê Thúy O1 căn cứ theo bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này...”, mà không thực hiện việc xác minh theo quy định trước khi công chứng là vi phạm quy định tại Điều 35 Luật công chứng 2006.
Hồ sơ công chứng có 01 bản sao công chứng GCNQSD đất số 517RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 mang tên Lê Thúy O1, do công chứng viên Trịnh Tiến D, công chứng viên Phòng C2, thực hiện ngày 08/10/2003, số CC 158 quyển 14TP/CC-SCC. Như vậy, tại thời điểm công chứng bản sao này thì GCNQSD đất số 517RÐ, do UBND thị xã T cấp ngày 14/9/1989 mang tên Lê Thúy O1 bản gốc hết hiệu lực, thửa đất tại số nhà E N, thành phố T của bà Lê Thúy O1 đã được UBND tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số phát hành 2701060686 số vào sổ cấp 033340 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999 cho bà Lê Thúy O1, địa chỉ tại số E N, B, Thành phố T.
Như vậy, ông Mai Trọng B là công chứng viên phải nắm rõ về các quy định pháp luật về công chứng, khi tiếp nhận hồ sơ công chứng phải có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu mà người yêu cầu công chứng nộp để thực hiện, có nhiều nội dung trong văn bản di chúc về nhân thân, địa chỉ không trùng nhau nhưng trong hồ sơ công chứng không có tài liệu nào chứng minh làm rõ, không có tài liệu nào thể hiện công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng làm rõ trước khi Công chứng, tài liệu hết hiệu lực nhưng công chứng viên cho rằng vì đã từng công chứng trước đây mà mà không yêu cầu cung cấp bản chính để kiểm tra, xác minh tính hợp pháp là không đúng quy định của pháp luật về công chứng như đã phân tích đánh giá nêu trên.
Kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh hoá cho rằng “việc công chứng viên không yêu cầu bà O1 phải làm rõ hoặc phải xác minh tính hợp pháp của các tài liệu có liên quan là không vi phạm Điều 48 Luật công chứng năm 2006” là không đúng quy định của Luật công chứng 2006, nên Kháng nghị không được chấp nhận.
Tại phiên toà phúc thẩm ông H1 và vợ ông là bà Trịnh Thị H3 đều khai là không biết bà O1 viết để lại di chúc, do khoảng thời thời gian ghi trong di chúc thì vợ chồng ông H1 không sống chung với bà O1 nên không biết. Sau này bà O1 mới đưa bản di chúc ông Hoàng G. Tại Biên bản hoà giải tại UBND phường B, thành phố T ngày 5/4/2017 thì ông H1 có ý kiến là “ Mẹ ông mất đột ngột không để lại di chúc..”. Lời khai của ông H1 là không thống nhất.
Ông Hồ Ngọc H1 kháng cáo cho rằng di chúc của mẹ ông là bà Lê Thị O lập ngày 24/4/2009 có công chứng tại phòng Công chứng số I tỉnh C2, có ông Phạm Văn T là người làm chứng là hợp pháp, nên đề nghị sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Thu H. Toà án cấp phúc thẩm đã đưa ông Phạm Văn T vào tham gia tố tụng theo đề nghị của ông H1, ông Phạm Văn T đã có lời khai về việc bà O minh mẫn khoẻ mạnh, ngoài ra ông không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ gì mới. Do vậy, kháng cáo của ông Hồ Ngọc H1 không được chấp nhận.
Từ những phân tích đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử nhận định: Văn Bản di chúc của bà Lê Thị O( Lê Thúy O1) lập ngày 24/4/2009 do công chứng viên Mai Trọng B, công chứng viên Phòng C2 thực hiện là không hợp pháp do vi phạm về trình tự thủ tục công chứng được quy định tại Điều 35, Điều 46, Điều 48 Luật công chứng 2006, bà O1 cung cấp thông tin, tài liệu (đã hết hiệu lực) cho Công chứng viên thực hiện chứng nhận vào di chúc là vi phạm điều cấm của Điều 12 Luật công chứng 2006, ngoài ra bà O1 còn xác định thời điểm (mua căn nhà số E N vào năm 1996 tức mua sau khi cấp giấy lần đầu) là không đúng thực tế. Cấp sơ thẩm nhận định Văn Bản di chúc của bà Lê Thị O( Lê Thúy O1) lập ngày 24/4/2009 không hợp pháp nên vô hiệu là có cơ sở.
Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai Thị Thu H về chia thừa kế tài sản của bà Lê Thị O theo pháp luật như cấp sơ thẩm xác định như sau.
Xác định di sản và hàng thừa thừa kế:
Bà Mai Thị Thu H và ông Hồ Ngọc H1 đều công nhận mẹ của ông, bà là bà Lê Thị O còn có tên khác là Lê Thúy O1 là đúng. Bà Mai Thị Thu H và ông Hồ Ngọc H1 đều công nhận mẹ của ông, bà Lê Thị O ( Lê Thúy O1) có 01 tài sản duy nhất là nhà đất số E đường N, phường B, thành phố T, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số 2701060686 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999, mang tên Lê Thúy O1, hiện nay ông Hồ Ngọc H1 đang giữ bản chính và gia đình ông Hồ Ngọc H1, vợ Trịnh Thị H3 đang sinh sống trên thửa đất này. Bà Mai Thị Thu H và ông Hồ Ngọc H1, vợ ông H1 là bà Trịnh Thị H3 đều công nhận công trình xây dựng trên đất là của bà Lê Thị O xây dựng.
Trên cơ sở xác định di chúc của cụ Lê Thị O (Lê Thúy O1) lập ngày 24/4/2009 không hợp pháp thì di sản là nhà đất số E đường N, phường B, thành phố T có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2701060686 do UBND tỉnh T cấp ngày 30/9/1999, mang tên Lê Thúy O1 là di sản thừa kế, được chia cho các hàng thừa kế theo pháp luật quy định tại các Điều 675, 676 của BLDS năm 2005 và Điều 650, 651 của BLDS năm 2015.
Đối với nhà đất số E N, phường B, thành phố T theo Giấy CNQSD đất số 2701060686 ngày 30/9/1999, diện tích đất ở được công nhận là 108,0m². Qua kiểm tra thực tế xác định diện tích đất gia đình ông Hồ Ngọc H1 đang sử dụng là 117,6 m²; được xác định như sau:
Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc địa chính thửa đất năm 2023, (BL 284) được xác định các điểm 1,2,3,4 gồm; kéo từ điểm 1-2 có chiều rộng = 5,05m, kéo từ điểm 2-3 có chiều dài = 23,15m, kéo từ điểm 3-4 có chiều rộng là 5,2m, kéo từ điểm 4-1 chiều dài = 22,3m. Ranh giới; phía Đông giáp hộ bà D1, phía Tây giáp hộ ông T2, phía Nam giáp hộ ông T3, phía Bắc giáp đường N. Đối với diện tích đất sau khi kiểm tra tăng 9,6 m², so với diện tích được ghi rong Giấy CNQSD đất, hiện tại UBND phường B, thành phố T đã tiến hành đầy đủ các thủ tục niêm yết công khai, xác định loại đất thổ cư được sử dụng trước năm 1980, lấy ý kiến của các hộ liền kề, kết quả không có ai khiếu nại về lấn chiếm ranh giới và được đưa vào danh sách các trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy CNQSD đất. Lý do diện tích tăng là khi đo đạc cấp giấy mới không chính xác. Do vậy, xác định diện tích này cũng là di sản thừa kế để phân chia.
Trên cơ sở kết quả định giá ngày 08/8/2023 được xác định như sau: Về đất ở, căn cứ Quyết định số 44/2019/QĐ-UBND ngày 23/12/2019 đối với giá Nhà nước quy định: 42.000.000đ/m² x 117,6m² x = 4.939.200.000 đồng. Căn cứ theo giá thị trường: 140.000.000đ/m² x 117,6m² = 16.464.000.000 đồng. Về tài sản trên đất trị giá = 365.789.690 đồng. Tổng giá trị tài sản gồm nhà và đất theo giá Nhà nước = 5.403.989.690 đồng, giá trị tài sản nhà và đất theo giá thị trường = 16. 829.789.690 đồng.
Tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên toà phúc thẩm các đương sự đều thống nhất với kết quả định giá tại cấp sơ thẩm, và không yêu cầu định giá lại. Do vậy kết quả nêu trên là căn cứ để chia thừa kế.
Xác định hàng thừa kế: Cụ Lê Thị O sinh được 03 người con là bà Mai Thị Thu H, ông Hồ Ngọc H1 và ông Hồ Ngọc T2. Hiện tại ông Hồ Ngọc T2 được Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tuyên bố đã chết theo QĐ số 04/2021/DS - ST ngày 29/11/2021. Tuy nhiên, trong vụ án này Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết công khai và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có hồi âm. Do vậy, xác định người thừa thừa kế theo pháp luật gồm có bà Mai Thị Thu H và ông Hồ Ngọc H1.
Xét yêu cầu chia di sản thừa kế: Khi cụ Lê Thị O chết không để lại nghĩa vụ về tài sản, các chi phí tang lễ cho cụ đã được Nhà nước hỗ trợ cho nên hàng thừa kế theo pháp luật không phải thực hiện nghĩa vụ.
Nguyên đơn khởi kiện có yêu cầu được hưởng di sản là giá trị quyền sử dụng đất, và không yêu cầu phần giá trị nhà trên đất. Xét diện tích đất ở hiện tại chiều rộng mặt trước là 5.05m, mặt sau là 5,2m, chiều dài một chiều 23,15m và một chiều là 22,3m. Như vậy, đủ điều kiện để chia đất ở cho các bên. Tuy nhiên, căn cứ vào Quyết định số 56/2024/QĐ-UBND ngày 09/9/2024 của UBND tỉnh T quy định điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa về (kích thước cạnh không đủ 3m) để đủ điều kiện cấp Giấy CNQSD đất, do đó chia cho nguyên đơn theo giá trị quyền sử dụng đất,bằng giá trị tiền là phù hợp.
Tại quyết định của Bản án sơ thẩm :
Xác định nhà, đất số E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, diện tích đất ở: 117,6m², trị giá 16.464.000.000 đồng, trị giá nhà: 365.789.690 đồng. Tổng giá trị nhà và đất là: 16. 829.789.690 đồng (mười sáu tỷ, tám trăm hai chín triệu, bảy trăm tám chín ngàn, sáu trăm chín mươi đồng) là di sản thừa kế của cụ Lê Thị O (Lê Thúy O1) để lại.
Trích công sức cho ông Hồ Ngọc H1 được hưởng 1.624.000.000 đồng (một tỷ, sáu trăm hai bốn triệu đồng) tương ứng với 11,6m² đất ở.
Chia cho bà Mai Thị Thu H được hưởng: 7.420.000.000 đồng (Bảy tỉ, bốn trăm hai mươi triệu đồng) tương đương với 53m² đất ở, tại số nhà E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Chia cho ông Hồ Ngọc H1 được hưởng: 7.420.000.000 đồng, (Bảy tỉ, bốn trăm hai mươi triệu đồng) tương đương với 53m² đất ở và toàn bộ nhà, công trình kiến trúc xây dựng trên đất tại số nhà E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Như vậy, ông Hồ Ngọc H1 được hưởng giá trị nhà và đất: 7.785.789.690 đồng (Bảy tỷ, bảy trăm tám lăm triệu, bảy trăm tám chín ngàn, sáu trăm chín mươi đồng). Tổng cộng Ông Hồ Ngọc H1 được hưởng 9.409.789.690 đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn bà Mai Thị Thu H trình bày: Bà hoàn toàn đồng ý với kết quả của bản án sơ thẩm nên không kháng cáo, tuy nhiên bà thấy rằng ông H1 hiện đang ở tại căn nhà E đường N, có công bảo dưỡng quản lý tài sản nhiều hơn bà, nên tại phiên toà phúc thẩm bà chỉ yêu cầu nhận phần thừa kế bà được hưởng bằng giá trị là: 6.000.000.000 đồng( Sáu tỷ đồng).
Cấp sơ thẩm trước khi chia di sản thừa kế theo pháp luật cũng xem xét đến công sức đóng góp của ông Hồ Ngọc H1 và chia thừa kế là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm bà Mai Thị Thu H đã tự nguyện chỉ nhận phần thừa kế bà được hưởng theo giá trị là 6.000.000.000 đồng( sáu tỷ đồng) thấp hơn theo quyết định của bản án sơ thẩm, đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên toà, HĐXX thấy rằng: Việc bà H tự nguyện nhận kỷ phần theo giá trị này không vượt quá yêu cầu khởi kiện, không vượt quá ½ giá trị tài sản là di sản thừa kế, nên HĐXX chấp nhận sự tự nguyện này của bà H, sửa quyết định của bản án sơ thẩm chia thừa kế bằng giá trị như sau:
Giá trị đất là: 16.464.000.000 đồng, trích công sức cho ông Hồ Ngọc H1 được hưởng 1.624.000.000 đồng (một tỷ, sáu trăm hai bốn triệu đồng) tương ứng với 11,6m² đất ở. Giá trị thừa kế về đất còn: 14.840.000.000 đồng.
Bà H được nhận thừa kế bằng giá trị là: 6.000.000.000 đồng( sáu tỷ đồng).
Ông Hồ Ngọc H1 được hưởng thừa kế giá trị đất: 8.840.000.000 đồng, giá trị nhà là 365.789.690 đồng và giá trị công sức là 1.624.000.000 đồng. Tổng cộng: 10.829.789.690 đồng ( mười tỷ, tám trăm hai chín triệu, bảy trăm tám chín ngàn, sáu trăm chín mươi đồng).
Giao cho ông Hồ Ngọc H1 được quyền sở hữu và sử dụng nhà, đất số E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Giấy CNQSD đất số 2701060686 do UBND thành phố T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 30/9/1999 mang tên Lê Thúy O1 (là di sản thừa kế). Ông H1 phải có trách nhiệm thanh toán lại cho bà Mai Thị Thu H số tiền bà H được hưởng kỷ phần thừa kế là: 6.000.000.000 đồng ( Sáu tỷ đồng).
Về án phí dân sự :
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Thị Thu H là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14.
Ông Hồ Ngọc H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá trị thừa kế được nhận:10.829.789.690 đồng, và án phí phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận theo quy định.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Ngọc H1 và Kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
Chấp nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Mai Thị Thu H về việc rút một phần giá trị thừa kế được chia, sửa Bản án sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.
Căn cứ: Khoản 5 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 71; Điều 72; khoản 4 Điều 68 và Điều 73 của Bộ Luật tố tụng Dân sự. Căn cứ Điều 652; Điều 675; Điều 676 của Bộ Luật Dân sự năm 2005; Điều 630; Điều 650 và Điều 651 của Bộ Luật Dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 106; Điều 113 của Luật Đất đai năm 2003, Điều 27 và Điều 45 của Luật Đất đai năm 2024; Điều 12; Điều 35, Điều 46, Điều 48 Luật công chứng 2006.Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 12, điểm a Khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Thu H, xác định di chúc của cụ Lê Thị O (Lê Thúy O1) lập ngày 24/4/2009 không hợp pháp. Chia di sản thừa kế của bà Lê Thị O( Lê Thúy O1) theo pháp luật.
Xác định nhà, đất số E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, có Giấy CNQSD đất số 2701060686 do UBND thành phố T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 30/9/1999 mang tên Lê Thúy O1; diện tích đất ở: 117,6m², trị giá 16.464.000.000 đồng, trị giá nhà: 365.789.690 đồng. Tổng = 16. 829.789.690 đồng (mười sáu tỷ, tám trăm hai chín triệu, bảy trăm tám chín ngàn, sáu trăm chín mươi đồng) là di sản thừa kế của bà Lê Thị O (Lê Thúy O1) để lại.
Trích công sức cho ông Hồ Ngọc H1 được hưởng 1.624.000.000 đồng (một tỷ, sáu trăm hai bốn triệu đồng) tương ứng với 11,6m² đất ở.
Chia thừa kế theo giá trị:
Chấp nhận sự tự nguyện của bà Mai Thị Thu H về hưởng thừa kế bằng giá trị đất và không hưởng giá trị phần nhà .
Bà Mai Thị Thu H được hưởng kỷ phần thừa kế bằng giá trị là: 6.000..000.000 đồng ( Sáu tỷ đồng)
Ông Hồ Ngọc H1 được hưởng thừa kế bằng giá trị đất: 8.840.000.000 đồng, giá trị nhà là 365.789.690 đồng và giá trị công sức là 1.624.000.000 đồng. Tổng cộng ông Hồ Ngọc H1 được hưởng kỷ phần thừa kế bằng giá trị là: 10.829.789.690 đồng ( Mười tỷ, tám trăm hai chín triệu, bảy trăm tám chín ngàn, sáu trăm chín mươi đồng).
Giao cho ông Hồ Ngọc H1 được quyền sở hữu và sử dụng nhà, đất tại số E đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa có Giấy CNQSD đất số 2701060686 do UBND thành phố T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 30/9/1999 mang tên Lê Thúy O1 (là di sản thừa kế).
Ông Hồ Ngọc H1 phải có trách nhiệm thanh toán lại cho bà Mai Thị Thu H số tiền bà H được hưởng kỷ phần thừa kế là: 6.000.000.000 đồng ( Sáu tỷ đồng).
Ông Hồ Ngọc H1 có quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoàn thiện thủ tục cấp Giấy CNQSD đất theo quy định của pháp luật.
Về án phí :
Bà Mai Thị Thu H là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14.
Ông Hồ Ngọc H1 phải chịu: 180.297.896 đồng (Một trăm tám mươi triệu, hai trăm chín bảy ngàn, tám trăm chín sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trường Du |
Bản án số 40/2025/DS-PT ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp chia di sản thừa kế.
- Số bản án: 40/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hà khởi kiện ông Hoàng yêu cầu chia thừa kế là tài sản
