Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/DS-PT

Ngày: 17/3/2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Hiệp

Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Bình

Bà Đinh Thị Quý Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Tân - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03, 10 và 17/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 232/2024/TLPT-DS ngày 12/12/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 25 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 18/2024/QĐXXPT-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Đỗ Ngọc D, sinh năm 1981; trú tại: số H C hộp rạch B, Phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú tại: Tổ B, khu phố I, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1962; ông Đỗ Thành L, sinh năm 1964; trú tại: Khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)

- Bị đơn có yêu cầu phản tố: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1991; trú tại: Ấp S, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông H: Ông Trần Bạch L1, sinh năm 1980; HKTT: Số F T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; tạm trú tại: Số A đường L, khu phố C, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B; địa chỉ: Quốc lộ A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn N, chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)

- Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á; địa chỉ trụ sở chính: D N, phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Số I, tổ B, khu phố C, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

    Đại diện theo ủy quyền của ngân hàng TMCP Á: Ông Nguyễn Đình L2 - Chức vụ: Phó Giám đốc Phòng Quản lý nợ; ông Nguyễn Đình L2 ủy quyền lại cho ông Ngô Thanh C - Chuyên viên Xử lý nợ; địa chỉ: lầu H, Tòa nhà A, 444A - D C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt)

  2. Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh C1; địa chỉ: Tổ A, khu phố C, thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)

* Người kháng cáo: bị đơn ông Nguyễn Thanh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn ông Đỗ Ngọc D trình bày:

Ông D là chủ sử dụng thửa đất số 104, tờ bản đồ số 84, diện tích 136,7m², toạ lạc tại khu phố B, thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước, theo GCNQSDĐ số CS10642 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/02/2020 cho ông Hồ Văn N1 bà Lê Thị O đã chuyển nhượng cho ông Đỗ Ngọc D theo hồ sơ chuyển nhượng số 25432.CN.197074 ngày 10/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C xác nhận chuyển nhượng cho ông Đỗ Ngọc D; vị trí thửa đất: Phía Tây giáp với thửa đất số 53 của bà Nguyễn Thị Lệ T, ông Đỗ Thành L; phía Nam giáp với thửa đất số 54 của ông Nguyễn Thanh H; phía Bắc giáp với thửa đất số 55 của ông Phan Ngọc N2 và phía Đông giáp với đường bê tông. Nguồn gốc đất ông D nhận chuyển nhượng của ông Hồ Văn N1, bà Lê Thị O năm 2022 và sử dụng đúng theo hiện trạng từ trước cho đến nay, đã xây nhà, hàng rào trước khi ông D nhận chuyển nhượng, không có tranh chấp. Tuy nhiên, theo sơ đồ đo đạc ngày 16/8/2022 đã được Sở T (STN&MT) tỉnh Bình Phước phê duyệt thì hiện trạng sử dụng thửa đất của ông D có sự sai lệch so với GCNQSDĐ, cụ thể: Phần đất có diện tích 6,2m² nằm trong GCNQSDĐ của ông D thuộc thửa đất số 104 nhưng bà T và ông L đang sử dụng; phần đất có diện tích 2,2m² nằm trong GCNQSDĐ của ông D thuộc thửa đất số 104 nhưng ông N2 đang sử dụng và phần đất có diện tích 8,1m², nằm trong GCNQSDĐ của ông H thuộc thửa đất số 54 nhưng ông D đang sử dụng, việc sai sót này là do sai sót của cơ quan đo đạc khi cấp đổi GCNQSDĐ, các chủ sử dụng đất không có lấn chiếm đất của nhau. Quá trình Toà án hoà giải thì ông D và bà T, ông L thống nhất điều chỉnh GCNQSDĐ theo đúng hiện trạng sử dụng đối với phần đất 6,2m² nêu trên nhưng phía ông H lại không đồng ý điều chỉnh đối với phần đất có diện tích 8,1m² nêu trên. Do ông H không đồng ý điều chỉnh ranh trên GCNQSDĐ theo hiện trạng sử dụng nên ông D khởi kiện bà T, ông L và ông H yêu cầu Toà án giải quyết giao và điều chỉnh phần đất có diện tích 6,2m², phần đất này nằm trong diện thửa đất số 104 của ông D sang thửa đất số 53 hộ ông L, bà T; giao và điều chỉnh phần đất có diện tích 8,1m², phần đất này nằm trong thửa đất số 54 của ông sang thửa đất số 104 của ông D.

Đối với yêu cầu phản tố của ông H thì ông D không đồng ý vì thửa đất số 104 của ông D khi nhận chuyển nhượng đã có sẵn như hiện trạng, ông D không lấn chiếm phần đất có diện tích 8,1m², thuộc thửa đất số 54 của ông H nên ông D không đồng ý tháo dỡ tường nhà để trả lại đất cho ông H, cũng không đồng ý trả giá trị bằng tiền tương ứng với phần đất có diện tích 8,1m² nói trên. Đối với phần đất có diện tích 2,2m² thuộc thửa đất số 104 của ông D nhưng hiện trạng chủ sử dụng thửa đất số 55 đang sử dụng, do các bên không có tranh chấp nên ông D không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn có yêu cầu phản tố là ông Nguyễn Thanh H và người đại diện theo uỷ quyền của ông H là ông Trần Bạch L1 thống nhất trình bày:

Ông H là chủ sử dụng thửa đất số 54, tờ bản đồ số 84, diện tích 300,6m², toạ lạc tại khu phố B, thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước, GCNQSDĐ số vào sổ CS 12891, do STN&MT tỉnh Bình Phước cấp ngày 06/01/2021 cho ông Nguyễn Thanh H. Nguồn gốc của thửa đất này do ông H nhận chuyển nhượng của hộ ông Phan Văn N3, bà Đặng Thị T1 vào năm 2020, qua kết quả đo đạc theo ranh GCNQSDĐ thể hiện chủ sử dụng thửa đất số 104 là ông D giáp ranh với thửa đất số 54 của ông H về phía Bắc hiện đang lấn chiếm, sử dụng của ông H phần đất 8,1m² và chủ sử dụng thửa đất số 53 là ông L, bà T giáp ranh với thửa đất số 54 của ông H về phía Bắc hiện đang lấn chiếm, sử dụng của ông H phần đất 15,2m². Thửa đất số 54 của ông H được STN&MT tỉnh Bình Phước cấp GCNQSDĐ nên ranh giới đất được xác định theo GCNQSDĐ, không xác định theo hiện trạng, việc ông D và ông L, bà T đang sử dụng các phần diện tích đất nêu trên là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H, ông H cũng có thiện chí hoà giải nếu ông D và ông L, bà T trả giá trị bằng tiền theo giá đất thị trường cho ông H đối với các diện tích đất mà ông D và ông L, bà T đang lấn chiếm nêu trên thì ông H đồng ý điều chỉnh lại GCNQSDĐ theo hiện trạng nhưng cả ông D và ông L, bà T không đồng ý.

Ngoài việc không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D thì ông H có yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông D có nghĩa vụ trả lại cho ông H phần đất lấn chiếm có diện tích 8,1m², phần đất này nằm trong thửa đất số 54, tờ bản đồ số 84, toạ lạc tại khu phố B, thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước, GCNQSDĐ số vào sổ CS 12891, do STN&MT tỉnh Bình Phước cấp ngày 06/01/2021 cho ông Nguyễn Thanh H và buộc ông L, bà T có nghĩa vụ trả lại cho ông H phần đất lấn chiếm có diện tích 15,2m², phần đất này nằm trong thửa đất số 54, tờ bản đồ số 84, toạ lạc tại khu phố B, thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước, GCNQSDĐ số vào sổ CS 12891, do STN&MT tỉnh Bình Phước cấp ngày 06/01/2021 cho ông Nguyễn Thanh H. Đồng thời, yêu cầu ông D và ông L, bà T phải tháo dỡ phần tường xây dựng trên phần đất lấn chiếm nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T thống nhất trình bày:

Ông L, bà T là chủ sử dụng đất thửa đất số 53, tờ bản đồ số 84, diện tích 154,7m², toạ lạc tại Khu phố B, thị trấn C, huyện C (nay là khu phố B, phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước; GCNQSDĐ số H -01833, do UBND huyện C (nay là thị xã C) cấp ngày 15/01/2009 cho hộ bà Nguyễn Thị Lệ T, ông Đỗ Thành L; thửa đất có vị trí như sau: Phía Nam giáp với thửa đất số 54, của ông H; phía Đông giáp với thửa đất số 104 của ông D; phía Bắc giáp với thửa đất số 55 của ông N2 và phía Tây giáp đường P (đường số H). Nguồn gốc đất do ông L, bà Thu nhận chuyển nhượng của mẹ bà T là bà Nguyễn Thị S vào năm 1986, đến năm 2007 thì được UBND huyện C (nay là thị xã C) cấp GCNQSDĐ số H – 03609, cấp ngày 13/8/2007; năm 2008 ông L, bà T chuyển nhượng phần đất phía sau cho ông Trần Thanh L3 (nay là thửa đất số 104 của ông D); đến năm 2009 thì ông L, bà T được cấp đổi GCNQSDĐ số H - 01833. Từ trước đến nay ông L, bà T sử dụng đất đúng hiện trạng, ranh giới rõ ràng, không có tranh chấp với ai và đã xây dựng nhà ở ổn định.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông D thì ông L, bà T đồng ý với yêu cầu của ông D, theo sơ đồ đo đạc khi Toà án giải quyết vụ án xác định ông L, bà T đang sử dụng phần đất có diện tích 6,2m² thuộc thửa đất số 104 của ông D, diện tích này ông L, bà T và ông D đã tự thoả thuận giao phần đất này cho bà T, ông L sử dụng như hiện trạng và hai bên điều chỉnh ranh trên GCNQSDĐ.

Đối với yêu cầu phản tố của ông H yêu cầu ông L, bà T trả lại cho ông H phần đất có diện tích 15,2m² thuộc thửa đất số 54 của ông H và yêu cầu tháo dỡ phần tường nhà xây trên phần đất này thì ông L, bà T không đồng ý vì hiện trạng từ trước cho đến nay ông L, bà T sử dụng không thay đổi, trước khi ông H nhận chuyển nhượng đất của ông N3, bà T1 thì ranh giới của hai thửa đất đã có sẵn, sử dụng ổn định, không có tranh chấp gì. Ông L, bà T xác định không lấn chiếm đất của ông H, còn việc đo đạc không đúng khi cấp GCNQSDĐ thì cần xin cấp đổi lại cho đúng ranh hiện trạng. Ngoài việc không đồng ý với yêu cầu của ông H thì ông L, bà T đề nghị Toà án giải quyết theo ranh hiện trạng sử dụng của thửa đất số 53; 54 và thửa đất số 104, vì quá trình sử dụng đất không có bên nào lấn chiếm đất của nhau.

Tại Văn bản số 2251/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 05/9/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B trình bày:

  1. Trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ thửa 104, thửa 53 và thửa 54, tờ bản đồ số 84 như sau:
    • GCNQSDĐ đối với thửa 104, tờ bản đồ 84, số phát hành CT 894422, số vào số cấp giấy CS 10642 tọa lạc tại khu phố B, phường H, thị xã C (trước đây là thị trấn C, huyện C), tỉnh Bình Phước, do STN&MT ký ngày 06/02/2020 cấp cho ông Hồ Văn N1, bà Lê Thị O và được chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã C đăng ký biến động GCN ngày 10/5/2022 cấp cho ông D được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; thành phần hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 09/2021/TT-BTNMT ngày 30/6/2021 của Bộ T2, thuộc thủ tục số 46 lĩnh vực đất đai, mã số hồ sơ 2.000889 000.00.00.H10 ban hành kèm theo Quyết định số 1990/QĐ- UBND ngày 03/8/2021 của UBND tỉnh B.
    • GCNQSDĐ đối với thửa 53, tờ bản đồ 84, số phát hành AO 632001, số vào sổ cấp giấy H 01833, tọa lạc tại Khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước do UBND huyện C cấp ngày 15/01/2009 cho hộ bà Nguyễn Thị Lệ T, ông Đỗ Thành L, STN&MT không có ý kiến về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận.
    • GCNQSDĐ đối với thửa 54, tờ bản đồ 84, số phát hành CY 235678, số vào sổ cấp giấy CS 12891 tọa lạc tại khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước do STN&MT ký ngày 06/01/2021 cấp cho ông H được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 79 nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; thành phần hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ T2, thuộc thủ tục số 32 lĩnh vực đất đai, mã số hồ sơ 2.000889 000.00.00.H10 ban hành kèm theo Quyết định số 1632/QĐ-UBND ngày 17/7/2020 của UBND tỉnh B.
  2. Việc cấp GCNQSDĐ đối với thửa 104 và thửa 54 tờ bản số 84 được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Trường hợp sau khi đã được cấp GCNQSDĐ mà ranh giới giữa hiện trạng sử dụng thực tế có thay đổi so với GCNQSDĐ là do quá trình sử dụng của người sử dụng đất, đề nghị Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành căn cứ thực tế sử dụng và các chứng cứ có liên quan để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
  3. Ranh giới thể hiện trên GCNQSDĐ đối với thửa 104 và thửa 54 tờ bản đồ số 84 không thay đổi so với GCNQSDĐ được cấp trước đây; thửa 53, tờ bản đồ số 84 diện tích giảm 10,3m², ranh giới thay đổi so với GCNQSDĐ được cấp năm 2007.
  4. Đối với việc cử đại diện tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật, STN&MT tỉnh Bình Phước cử ông Phạm Văn N, chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã C tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của STN&MT tỉnh Bình Phước.

Ngoài các nội dung nêu trên thì ông N không trình bày ý kiến nào khác.

Tại phiên toà sơ thẩm:

Nguyên đơn ông D có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án ghi nhận sự thoả thuận giữa ông D và ông L, bà T về việc sử dụng đất theo ranh hiện trạng giữa thửa đất số 104 và thửa đất số 53, công nhận cho hộ ông L, bà T được quyền sử dụng phần đất 6,2m² nêu trên và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh phần diện tích đất này từ GCNQSDĐ thửa đất số 104 của ông D sang GCNQSDĐ thửa đất số 53 của hộ ông L, bà T phù hợp với ranh hiện trạng sử dụng của các bên; không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông H, đề nghị ông H tôn trọng ranh hiện trạng giữa thửa đất số 104 và thửa đất số 54;

Bị đơn ông H vắng mặt nhưng người đại diện hợp pháp của ông H là ông L1 có mặt; ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông D và vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình;

Bị đơn ông L, bà T có mặt và đề nghị Toà án ghi nhận sự thoả thuận giữa ông L, bà T và ông D về việc sử dụng đất theo ranh hiện trạng giữa thửa đất số 53 và thửa đất số 104, công nhận cho hộ ông L, bà T được quyền sử dụng phần đất 6,2m² nêu trên và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh phần diện tích đất này từ GCNQSDĐ thửa đất số 104 của ông D sang GCNQSDĐ thửa đất số 53 của hộ ông L, bà T; không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông H;

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Ngọc D và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Thanh H.
    1. Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa ông Đỗ Ngọc D và ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T: Công nhận ranh thực tế sử dụng giữa thửa đất số 104 của ông Đỗ Ngọc D và thửa đất số 53 của hộ ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T và công nhận cho hộ ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T được quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 6,2m² theo ranh thực tế sử dụng (ranh hiện trạng); phần đất này nằm trong thửa đất số 104, tờ bản đồ số 84, toạ lạc tại khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hồ sơ số 25432.CN.197074 ngày 10/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C cấp cho ông Đỗ Ngọc D (Vị trí diện tích đất, ranh thực tế sử dụng nêu trên được thể hiện tại sơ đồ đo đạc được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt ngày 16/8/2022).

      Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai (cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành) điều chỉnh lại phần đất có diện tích 6,2m² từ thửa đất số 104 của ông Đỗ Ngọc D sang thửa đất số 53 của ông Đỗ Thanh L4.

    2. Công nhận ranh thực tế sử dụng giữa thửa đất số 104 của ông Đỗ Ngọc D và thửa đất số 54 của ông Nguyễn Thanh H; công nhận cho ông Đỗ Ngọc D được quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 8,1m² theo ranh thực tế sử dụng (ranh hiện trạng); phần đất này nằm trong thửa đất số 54, tờ bản đồ số 84, toạ lạc tại khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 235678, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số: CS 12891, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/01/2021 cho ông Nguyễn Thanh H (Vị trí diện tích đất, ranh thực tế sử dụng nêu trên được thể hiện tại sơ đồ đo đạc được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt ngày 16/8/2022).

      Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai (cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành) điều chỉnh lại phần đất có diện tích 8,1m² từ thửa đất số 54 của ông Nguyễn Thanh H sang thửa đất số 104 của ông Đỗ Ngọc D.

    3. Công nhận ranh thực tế sử dụng giữa thửa đất số 53 hộ ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T và thửa đất số 54 của ông Nguyễn Thanh H; Công nhận cho hộ ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T được quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 15,2m² theo ranh thực tế sử dụng (ranh hiện trạng); phần đất này nằm trong thửa đất số 54, tờ bản đồ số 84, toạ lạc tại khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 235678, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS 12891, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/01/2021 cho ông Nguyễn Thanh H (Vị trí diện tích đất, ranh thực tế sử dụng nêu trên được thể hiện tại sơ đồ đo đạc được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt ngày 16/8/2022).

      Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai (cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành) điều chỉnh lại phần đất có diện tích 15,2m² từ thửa đất số 54 của ông Nguyễn Thanh H sang thửa đất số 53 của hộ ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T.

Ông Đỗ Ngọc D; ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T và ông Nguyễn Thanh H có trách nhiệm liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai để đăng ký điều chỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo trình tự thủ tục quy định của Luật Đất đai đối với các phần đất nêu trên theo sơ đồ đo đạc đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt ngày 16/8/2022 (Có sơ đồ đo đạc kèm theo).

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về phần án phí, chi phí tố tụng và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/10/2024 bị đơn ông Nguyễn Thanh H có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết cho ông Nguyễn Thanh H nhận lại quyền sử dụng đất mà hộ ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T với diện tích 15,2m² và ông Đỗ Ngọc D 8,1m² đã lấn chiếm và sử dụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:

  • Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông H, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo hướng điều chỉnh cách tuyên, không tuyên nội dung: Công nhận cho hộ ông ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T được quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 15,2m² nằm trong thửa đất số 54, tờ bản đồ số 84 của ông Nguyễn Thanh H và nội dụng điều chỉnh giấy chứng nhận liên quan diện tích đất này. Các phần khác của Bản án đề nghị giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Thửa đất số 54, tờ bản đồ số 84, diện tích 300,6m², GCNQSDĐ số vào sổ CS 12891, do STN&MT tỉnh Bình Phước cấp ngày 06/01/2021 cho ông Nguyễn Thanh H có nguồn gốc ông H nhận chuyển nhượng của hộ ông Phan Văn N3, bà Đặng Thị T1 vào năm 2020. Ông H xác nhận khi nhận chuyển nhượng thửa đất số 54 của ông N3, bà T1 thì các bên không đo đạc để xác định diện tích đất thực tế. Thời điểm ông H nhận chuyển nhượng, trên đất đã xây dựng nhà ở, hàng rào bao quanh tới nay, ranh giới thửa đất số 54 với các thửa đất xung quanh không thay đổi, đúng với ranh ông N3, bà T1 đã giao cho ông H vào năm 2020. Nội dung này cũng được bà Đặng Thị T1 là người chuyển nhượng và giao thửa đất số 54 cho ông H vào năm 2020 xác nhận là đúng. Vì vậy, có căn cứ xác định thời điểm ông H nhận chuyển nhượng thửa đất số 54 thì ông H đã biết rõ ranh giới theo hiện trạng thực tế của thửa đất số 54 với các thửa đất liền kề.

[2] Theo kết quả xem xét tại chỗ ngày 17/7/2024 và thừa nhận của các đương sự thì thời điểm ông Phan Văn N3, bà Đặng Thị T1 còn là chủ sủ dụng đất, ranh giới thửa đất số 54 của ông H với thửa đất số 104 của ông D đã được xác lập bằng hàng rào do ông N3, bà T1 xây dựng chạy liền mạch hết chiều dài của thửa đất số 104; ranh giữa thửa đất số 54 với thửa đất số 53 của ông L, bà T được xác lập bằng trụ cọc bê tông, tường căn nhà do ông N3, bà T1 xây dựng ở phần đầu và phần cuối theo chiều dài của thửa đất số 53, phần ở giữa không xây hàng rào mà ông N3, bà T1 tận dụng tường căn nhà của ông L, bà T xây dựng làm ranh giới. Từ những căn cứ trên cho thấy, trong quá trình sử dụng các thửa đất trên, hộ ông L, bà T chủ sử dụng thửa đất số 53, ông D chủ sử dụng thửa đất số 104 không có tranh chấp gì đối với ông H liên quan đến thửa đất số 54 của ông H, các chủ sử dụng đất sử dụng ổn định, liên tục theo ranh thực tế và không có hành vi lấn chiếm nào trên thực tế.

[3] Ông H cho rằng ông đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất ghi trên GCNQSDĐ, trong đó có 8,1m² ông D đang sử dụng và 15,2m² ông L, bà T đang sử dụng. Căn cứ vào hồ sơ cấp GCNQSDĐ, Hội đồng xét xử thấy rằng, thửa đất số 53 và thửa đất số 104 hiện nay có nguồn gốc ông L, bà Thu nhận chuyển nhượng của mẹ bà T là bà Nguyễn Thị S vào năm 1986, đến năm 2007 ông L, bà T được cấp GCNQSDĐ lần đầu; đến năm 2009 thì được cấp đổi GCNQSDĐ. Giáp ranh với thửa đất số 53 về phía Nam là thửa đất số 54 của ông Phan Văn N3, bà Đặng Thị T1 có cột mốc rõ ràng, ông N3, bà T1 đã xây nhà và hàng rào. Theo ranh giới thể hiện trên GCNQSDĐ số H- 03609, UBND huyện C cấp lần đầu ngày 13/8/2007 cho hộ bà T, ông L với ranh giới thể hiện trên GCNQSDĐ số H-01833, do UBND huyện C cấp đổi ngày 15/01/2009 cho hộ bà T, ông L thì ranh giới thửa đất số 53 với thửa đất số 54 có sự thay đổi. Theo đó, GCNQSDĐ cấp năm 2007 thể hiện đường ranh cong nhưng khi cấp đổi GCNQSDĐ năm 2009 lại là đường ranh thẳng, trong khi đó ranh giới trên thực tế của hai thửa đất này không thay đổi. Cụ thể, ranh trên GCNQSDĐ thửa đất số 53 được cấp lần đầu năm 2007 là đường cong đúng với ranh hiện trạng tại sơ đồ đo đạc được STN&MT tỉnh Bình Phước ký duyệt ngày 16/8/2022, không phải đường ranh thẳng như GCNQSDĐ cấp đổi năm 2009 của hộ ông L, bà T. Như vậy, ranh giới thể hiện trong GCNQSD đất STN&MT tỉnh Bình Phước đã cấp đối với thửa đất số 54 cho ông H năm 2021 và thửa đất số 104 cho ông D năm 2022 là không đúng ranh giới trên thực tế tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho các chủ sử dụng đất. Theo quy định tại khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 “Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có; Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 99 của Luật này”; khoản 6 Điều 135 Luật Đất đai năm 2024 cũng quy định “Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế; Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; Trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp mà vị trí không chính xác thì rà soát, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người sử dụng đất”. Vì vậy, cần căn cứ vào ranh giới thực tế các bên đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp từ khi các bên được cấp GCNQSDD để cho rằng ranh giới giữa các thửa đất có tranh chấp trong vụ án này. Ông H căn cứ ranh trên GCNQSDĐ để xác định ông D và ông L, bà T lấn chiếm đất của mình là không đủ cơ sở. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông H về việc xác định ranh giới các thửa đất tranh chấp theo GCNQSD đất là có căn cứ.

[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thanh H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành.

[5] Đối với ý kiến của các ngân hàng, trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm: hiện nay ông D đang thế chấp thửa đất số 104 cho Ngân hàng Á; bà T ông L thế chấp thửa đất số 53 cho Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh C1 để vay tiền. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp Sơ thẩm chưa yêu cầu các đương sự và ngân hàng có ý kiến hoặc yêu cầu về nội dung này là có thiếu sót. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng phần đất có tranh chấp các đương sự đang thế chấp cho các ngân hàng là không nhiều, vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm là không nghiêm trọng. Hơn nữa, các đương sự còn quyền khởi kiện nếu phát sinh tranh chấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ nêu ra để Tòa án cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

[6] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đỗ Thành L và bà Nguyễn Thị Lệ T không có yêu cầu (độc lập) công nhận phần đất ông bà đang sử dụng trong GCNQSDĐ cấp cho ông Nguyễn Thanh H nhưng Tòa án cấp sơ thẩm công nhận phần đất này cho ông H là không đúng quy định tại Điều 5 BLTTDS nên cần sửa lại cách tuyên về nội dung này cho phù hợp.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Theo quyết định của Bản án sơ thẩm.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

[9] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh H;
  • Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 25 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước như sau:

    Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, các điều 144; 147; 244; 266; 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điểm đ Điều 12; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Áp dụng các điều 166; 175 và Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 97; 106; 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 (các điều 136; 152; 235 và Điều 236 Luật Đất đai năm 2024);

    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Ngọc D; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Thanh H.

      Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa ông Đỗ Ngọc D với ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T: Công nhận ranh giới thửa đất số 104 của ông Đỗ Ngọc D với thửa đất số 53 của hộ ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T là ranh theo hiện trạng sử dụng. Cụ thể, phần đất có diện tích 6,2m² nằm trong thửa đất số 104, tờ bản đồ số 84, toạ lạc tại khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo GCNQSDĐ số CS10642 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/02/2020 cấp cho ông Hồ Văn N1 bà Lê Thị O đã chuyển nhượng cho ông Đỗ Ngọc D theo hồ sơ chuyển nhượng số 25432.CN.197074 ngày 10/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C đăng ký biên động chuyển nhượng cho ông Đỗ Ngọc D nay xác định thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ 84, theo GCNQSDĐ số H-01833 UBND huyện C (nay là thị xã C) cấp ngày 15/01/2009 cho hộ bà Nguyễn Thị Lệ T, ông Đỗ Thành L (theo sơ đồ đo đạc được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt ngày 16/8/2022 kèm theo Bản án này).

      Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh lại vị trí, ranh giới, diện tích thửa đất số 104 của ông Đỗ Ngọc D và thửa đất số 53 của hộ bà Nguyễn Thị Lệ T, ông Đỗ Thành L theo quyết định tại Bản án này.

    2. Xác định ranh giới thửa đất số 104 của ông Đỗ Ngọc D với thửa đất số 54 của ông Nguyễn Thanh H là ranh giới theo hiện trạng sử dụng. Cụ thể, phần đất có diện tích 8,1m² nằm trong thửa đất số 54, tờ bản đồ số 84, toạ lạc tại khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo GCNQSDĐ số CY 235678, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số CS 12891, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/01/2021 cho ông Nguyễn Thanh H nay xác định thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ 84 (cùng địa chỉ), theo GCNQSDĐ số CS10642 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/02/2020 cấp cho ông Hồ Văn N1 bà Lê Thị O đã chuyển nhượng cho ông Đỗ Ngọc D theo hồ sơ chuyển nhượng số 25432.CN.197074 ngày 10/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C đăng ký biến động chuyển nhượng cho ông Đỗ Ngọc D (theo sơ đồ đo đạc được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt ngày 16/8/2022 kèm theo Bản án này).

      Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh lại vị trí, ranh giới, diện tích thửa đất số 54 của ông Nguyễn Thanh H và thửa đất số 104 của ông Đỗ Ngọc D theo quyết định tại Bản án này.

    3. Xác định ranh giới thửa đất số 53 của hộ bà Nguyễn Thị Lệ T, ông Đỗ Thành L với thửa đất số 54 của ông Nguyễn Thanh H là ranh giới theo hiện trạng sử dụng. Cụ thể, phần đất 15,2m² nằm trong thửa đất số 54, tờ bản đồ số 84, toạ lạc tại khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo GCNQSDĐ số CY 235678, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số CS 12891 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/01/2021 cho ông Nguyễn Thanh H nay xác định thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ 84, theo GCNQSDĐ số H-01833 do do UBND huyện C (nay là thị xã C) cấp ngày 15/01/2009 cho hộ bà Nguyễn Thị Lệ T, ông Đỗ Thành L (theo sơ đồ đo đạc được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt ngày 16/8/2022 kèm theo Bản án này).

      Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh lại vị trí, ranh giới, diện tích thửa đất số 54 của ông Nguyễn Thanh H và thửa đất số 53 của của hộ bà Nguyễn Thị Lệ T, ông Đỗ Thành L theo quyết định tại Bản án này.

    4. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • Ông Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000 đồng đối với tranh chấp với ông Đỗ Ngọc D và 300.000 đồng đối với tranh chấp với bà Nguyễn Thị Lệ T và ông Đỗ Thành L, tổng cộng là 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền 600.000 đồng ông H đã nộp tại biên lai nộp tạm ứng án phí số 0004277 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước;
      • Ông Đỗ Thành L, bà Nguyễn Thị Lệ T được miễn án phí;
      • Ông Đỗ Ngọc D không phải chịu án phí, hoàn trả cho ông Đỗ Ngọc D 300.000 đồng ông D đã nộp tại biên lai nộp tạm ứng án phí số 0012342 ngày 29/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước;
    5. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Nguyễn Thanh H phải chịu 3.000.000 (ba triệu) đồng, được trừ vào số tiền 3.000.000 đồng ông H đã nộp tại biên bản giao nhận ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành.
    6. Án phí dân sự phúc thẩm:
      • Bị đơn ông Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004566 ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
    7. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - TAND thị xã Chơn Thành;
  • - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, TỔ HCTP, Tòa DS.(13)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tiến Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 40/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ông Đỗ Ngọc Duy Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu và ông Đỗ Thành Luyện Bị đơn có yêu cầu phản tố: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger