Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/DS-PT

Ngày: 02/4/2025

“V/v yêu cầu chấm dứt

hành vi cản trở quyền sử dụng đất”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Thật

Các Thẩm phán: Bà Lê Thi Hạng

Ông Nguyễn Hồng Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Liên - Kiểm sát viên

Ngày 01 và 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 158/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 31/2025/QĐXXPT-DS ngày 17/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 39/2025/QĐ-PT ngày 03/3/2025 và Thông báo dời ngày xét xử số 04/TA-DS ngày 17/3/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
  2. Bà Nguyễn Thị Trương N, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1976; địa chỉ liên hệ: Văn phòng Luật sư Phạm Thái H1, đường L, tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (Giấy ủy quyền ngày 04/12/2024). Có mặt.

- Bị đơn:

  1. Bà Võ Thị C, sinh năm 1937; địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  2. Ông Phan Văn N1, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  3. Bà Đỗ Thị N2, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N1, bà N2: ông Đặng Nguyễn Duyên A - Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N trình bày:

Năm 2020, vợ chồng ông Q, bà N được cha ông Q là ông Nguyễn Xuân T tặng cho thửa đất số 353, tờ bản đồ số 41, diện tích 2.015,1m², tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C. Trong quá trình sử dụng đất, giữa đất của ông T và đất của ông Phan Văn N1, bà Đỗ Thị N2 (là người đang quản lý, sử dụng thửa đất liền kề) và đất của bà Võ Thị C đã bị phá bỏ mốc giới đất, không còn hàng rào. Sau khi được tặng cho đất, vợ chồng ông Q, bà N tiến hành trồng trụ để rào lại đất theo mốc đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông N1, bà N2, ông Nguyễn Văn H2 (là con trai bà Võ Thị C) đã có hành vi cản trở, nhổ bỏ toàn bộ cọc mốc của vợ chồng ông Q, bà N đã trồng. Ông Q, bà N rút yêu cầu khởi kiện đối với bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn H2. Ông Q, bà N vẫn giữ yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm giải quyết buộc ông Phan Văn N1, bà Đỗ Thị Nước chấm D hành vi cản trở quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Q, bà N để ông Q, bà N được rào lại thửa đất theo tọa độ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo bản tự khai ngày 07/4/2021 và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn ông Phan Văn N1 và bà Đỗ Thị N2 trình bày:

Ông N1, bà N2 là người đang quản lý, sử dụng thửa đất số 8, tờ bản đồ số 53, tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C. Trước đây, thửa đất của ông Q, bà N thuộc thửa đất của ông D1 có diện tích 9.790m². Năm 2016, ông D1 sang nhượng lại cho ông Nguyên Xuân T1. Khi ông T1 cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất của ông T1 là 9.989,5m², tăng thêm 199,5m². Ông T1 đã hai lần tách thửa đất để cho con nhưng không được gia đình ông N1, bà N2 ký giáp ranh. Trước đây, giữa hai thửa đất có một bờ đất chung rộng khoảng 01m, phần đất này không thuộc của ai. Ranh giới đất của ông Q, bà N trên giấy chứng nhận không đúng với ranh giới đất trên thực địa. Vì vậy, ông N1, bà N2 không đồng ý cho ông Q, bà N xây dựng hàng rào theo tọa độ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo bản tự khai ngày 07/4/2021, biên bản lấy lời khai ngày 05/9/2021 và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyên Văn H3 trình bày:

Ông H3 là người trực tiếp canh tác trên thửa đất số 14, tờ bản đồ số 53, tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C. Thửa đất này được cấp giây chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông H3 là hộ bà Võ Thị C. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Q, bà N rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với bà Võ Thị C và ông Nguyễn Văn H2 thì ông H2 không có ý kiến gì. Theo ông H2 được biết, trước đây giữa đất của ông N1, bà N2 và đất ông Q, bà N có một bờ đất rộng khoảng 01m, trong quá trình canh tác sau này bờ đất này đã bị phá bỏ.

Theo bản tự khai ngày 18/10/2021, người làm chứng ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị Bé E trình bày:

Vợ chồng ông T, bà E nhận chuyển nhượng thửa đất số 250, tờ bản đồ số 41, diện tích 9.989,5m² từ ông Nguyễn D1 (hiện đã rời khỏi địa phương, đi đâu không rõ). Ông T, bà E được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/11/2016. Khi ông T, bà E làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đo đạc ranh giới đất thì không có bất kỳ ai tranh chấp, không ai khiếu nại việc cấp sổ. Ngày 16/10/2018, ông T, bà E làm thủ tục tặng cho một phần thửa đất có diện tích 3.988,5m² cho vợ chồng con trai là Nguyễn Thanh T2 và Lê Phương L. Phần diện tích đất còn lại là 6.001m² ông T, bà E được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/10/2018. Ngày 08/01/2020, ông T, bà E tặng cho vợ chồng con trai là Nguyễn Xuân Q và Nguyễn Thị Trương N phần đất có diện tích 2.015,1m² (thửa đất 353, tờ bản đồ số 41). Việc bà Võ Thị C, ông Phan Văn N1, bà Đỗ Thị N2 cản trở, xua đuổi, không cho vợ chồng ông Q, bà N cắm mốc đất là không đúng.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã căn cứ Điều 164, Điều 169 của Bộ luật Dân sự; Điều 166 Luật Đất đai quyết định: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N đối với bị đơn bà Võ Thị C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N. Buộc ông Phan Văn N1 và bà Đỗ Thị Nước chấm D hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N, đối với thửa đất số 353, tờ bản đồ 41, diện tích 2.015,1m², tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; ông Q, bà N được xây dựng hàng rào trên phần đất giáp ranh với thửa đất số 8, tờ bản đồ 53 theo tọa độ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quy định chung về thi hành án và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/10/2024, bị đơn bà Đỗ Thị N2 và ông Phan Văn N1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Lời khai và các tài liệu chứng cứ, chứng cứ các đương sự cung cấp tại giai đoạn phúc thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn bà Đỗ Thị N2 và ông Phan Văn N1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và chỉ đồng ý để ông Q, bà N cấm móc theo ranh giới là bờ đất củ trước đây, không đồng ý việc nguyên đơn cắm móc theo Giấy chứng nhận; đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký, các đương sự đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, bị đơn vẫn giữ nội dung kháng cáo nên xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 26/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh tuyên Bản án số: 43/2024/DS-ST, ngày 08/10/2024 bị đơn kháng cáo bản án nên việc kháng cáo trong thời hạn và được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1.] Nguồn gốc thửa đất 353, tờ bản đồ 41 là một phần của thửa đất số 250, tờ bản đồ số 41, diện tích 9989,5m² của ông Nguyễn Dần . Năm 2016, ông D1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Xuân T, Nguyễn Thị Bé E và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/11/2016. Năm 2018, ông T, bà B tách thành 2 thửa đất, 1 thửa cho ông Nguyễn Thanh T2 và bà Lê Phươg L1 diện tích 3988,5m, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/10/2018 và thửa còn lại 328, tờ bản đồ 41, diện tích 6001,1m² ông Thanh quản L2, sử dụng. Năm 2020, ông T, bà B tiếp tục tách thửa đất 328 thành 2 thửa và tặng cho con ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N (thửa đất 353, tờ bản đồ 41). Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông T bà B năm 2016 và 2 lần tách thửa năm 2018 và năm 2020 được thực hiện theo hệ tọa độ VN-2000, xác định ranh giới, mốc giới, kích thước cạnh rõ ràng nhưng các hộ liền kề không tranh chấp quyền sử dụng đất, cũng như khiếu nại về việc Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà B. Đồng thời, cho đến nay, phía bị đơn cũng như những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có đơn tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất 353 của ông Q, bà N. Do đó, ông Q, bà N có quyền thực hiện các quyền của chủ sở hữu quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 166 Luật đất đai năm 2013.

[2.2.] Đối với thửa đất số 08, tờ bản đồ 53 có diện tích 4044,9m² do bị đơn đang quản lý, sử dụng được gọp từ thửa đất số 513, diện tích 1225m², thửa 518, diện tích 415 m² và thửa 519, diện tích 2235 m² có tổng diện tích 3875m² được Cấp GCN quyền sử dụng đất cho ông Đỗ Như T3 ngày 14/5/1994 và cấp lại cho ông Đỗ Như T3 và bà Trần Thị T4 ngày 09/8/2000. Hiện nay, ông T3, bà T4 vẫn

đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này và các con của ông T3, bà T4 không có yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Q, bà N liên quan đến thửa đất 353, tờ bản đồ 41. Bà Đỗ Thị N2 và ông Phan Văn N1 không phải là chủ sở hữu quyền sử dụng thửa đất 08, tờ bản đồ 53 mà chỉ là người quản lý thay cho gia đình ông T3, bà T4.

[2.3.] Ông N1, bà N2 xác định ranh giới giữa thửa đất số 353, tờ bản đồ 41 và thửa đất số 08, tờ bản đồ 53 là bờ đất rộng 1m, cao 50cm, dài 10m nhưng ông Q phá bỏ, ngoài ra không có công trình xây dựng nào khác để xác định ranh giới thửa đất, chỉ có cây dầu lai làm ranh giới còn lại. Tuy nhiên, năm 2020, ông Q, bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phá bỏ bờ đất để canh tác nhưng ông N1, bà N2 không có tranh chấp hay hành khiếu nại gì và hiện nay trên thực địa cũng không còn bờ đất hay mốc giới gì xác định ranh giữa thửa đất 353 và thửa 08. Đồng thời, hiện trạng thửa đất số 08, tờ bản đồ 53 có diện tích 4044,9m² là rộng hơn diện tích thửa đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T3 và bà T4 vào năm 1994 và năm 2000 (theo GCN 3875m²). Do đó, việc ông N1, bà N2 cho rằng ông Q, bà N cắm móc, trồng trụ lấn sang đất của ông T3, bà T4 là không có cơ sở và có hành vi cản trở việc xác định ranh giới đất là trái quy định pháp luật

[2.4.] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định yêu cầu khởi kiện của ông Q, bà N về việc yêu cầu ông N1, bà Nước chấm D hành vi cản trở quyền sử dụng đất là có cơ sở và Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xác định kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 164, Điều 169 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166 Luật đất đai 2023
  • - Căn cứ các Điều 147, khoản 1 Điều 289, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn N1 và bà Võ Thị N3, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N:
  2. Buộc ông Phan Văn N1 và bà Đỗ Thị Nước chấm D hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N đối với thửa đất số 353, tờ bản đồ số 41, diện tích 2015,1 m² tọa lạc tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CS03911, ngày 28/4/2020.

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N đối với bị đơn bà Võ Thị C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H2.
  4. Về chi phí tố tụng:
  5. Ông Phan Văn N1 và bà Đỗ Thị N2 phải chịu 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) chi phí đo vẽ, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ. Buộc ông Phan Văn N1 và bà Đỗ Thị N2 phải hoàn trả cho ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) đã nộp.

    Ngoài ra, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

  6. Về án phí: Ông Phan Văn N1 và bà Đỗ Thị N2 phải chịu 300.000đ đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. H4 lại cho ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Trương N 1.520.000 đồng (Một triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0001866 ngày 04/02/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

* Quy định chung: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hánh án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • Hòa;
  • - TAND huyện Diên Khánh;
  • - Chi cục THADS huyện Diên Khánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Thật

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/DS-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 40/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger