Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ PƯH

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HSST

Ngày 02/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Trung
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Nguyễn Thanh Thắm
    2. Ông Siu Thun Phrâo
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

1. Nguyễn Thị Phương N, sinh ngày 28/02/1993, tại huyện C, tỉnh Gia Lai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Tấn V và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Võ Thanh B và 01 người con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm 1987

Trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua mối quan hệ giữa Nguyễn Thị Hồng N1, (sinh năm 1987, trú tại Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C) và Nguyễn Thị Phương K (sinh năm 1983, trú tại thôn H, thị trấn N, huyện C) mà Nguyễn Thị Phương N (là em ruột của Nguyễn Thị Phương K) quen biết với N1. Từ năm 2022 đến đầu tháng 8/2023, Nguyễn Thị Hồng N1 bắt đầu vay tiền của N nhiều lần và trả đủ theo thỏa thuận. Sau đó, N1 tiếp tục hỏi vay tiền N, cũng nói để cho người khác vay lại lấy tiền lãi với lãi suất cao thì N đồng ý cho vay. Từ ngày 20/8/2023 đến ngày 27/9/2023, N đã cho N1 vay 05 (năm) lần. Hai bên trao đổi, nhắn tin qua lại với nhau qua tài khoản mạng xã hội Facebook và giao dịch chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng, không sử dụng tiền mặt (N sử dụng tài khoản ngân hàng V1 của mình mang số: [...] để giao dịch với N1 qua tài khoản ngân hàng V1 mang số: [...] và tài khoản ngân hàng A mang số: 5024215000280), cụ thể như sau:

  • + Lần 01: Vào ngày 20/8/2023, N1 nói bạn mình cần vay tiền, sau khi thỏa thuận thì ngày 21/8/2023, N đồng ý chuyển khoản cho N1 vay số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), thời gian vay trong vòng 02 (Hai) tháng, từ ngày 21/8/2023 đến ngày 21/10/2023, lãi suất thỏa thuận là: 10.000đồng/1.000.000đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 365%/năm), 10 ngày sẽ trả lãi một lần, với số tiền là: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng); N1 lập 02 (hai) giấy vay tiền, đều được đánh máy in ra giấy A4, thể hiện nội dung khoản vay này, rồi ký tên và gửi cho N ở TP .. Khoản vay này thì vào 04 (bốn) ngày: 30/8/2023, 09/9/2023, 19/9/2023 và 30/9/2023, N1 đã chuyển khoản trả tiền lãi cho N theo thỏa thuận, mỗi lần là: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), tổng cộng số tiền là: 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng). Ngoài ra, N1 không trả được tiền gốc cho N theo thỏa thuận hay trả được thêm số tiền nào khác liên quan khoản vay này.
  • Theo quy định thì số tiền lãi mà N được thu cho mỗi lần là: Số tiền gốc (300.000.000 đồng) * Số ngày vay (thỏa thuận là 10 ngày) * Lãi suất/ngày (20%/năm, tương đương lãi suất 0.05479%/ngày) = 1.643.836 đồng (một triệu, sáu trăm, bốn mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi sáu đồng), tổng cộng 04 (bốn) lần là: 6.575.342 đồng (sáu triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn, ba trăm bốn mươi hai đồng). Như vậy, số tiền thu lợi bất chính đối với khoản vay này mà N đã nhận là: 120.000.000 đồng - 6.575.342 đồng = 113.424.658 đồng (một trăm mươi ba triệu, bốn trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm năm mươi đồng).
  • + Lần 02: Vào ngày 14/9/2023, N1 nói cần tiền gấp để lo công việc, nên hỏi vay N số tiền là: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) trong vòng 01 (một) ngày, đồng thời trả cho N tiền lãi là: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), tương đương mức lãi suất là 3650%/năm thì N đồng ý rồi chuyển khoản cho N1. Đến ngày 15/9/2023, N1 chuyển trả cho N theo thỏa thuận với số tiền 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng).
  • Theo quy định, số tiền lãi mà N được thu là: Số tiền gốc (100.000.000 đồng) * Số ngày vay (01 ngày) * Lãi suất/ngày (20%/năm, tương đương lãi suất 0.05479%/ngày) = 54.795 đồng (năm mươi bốn nghìn, bảy trăm chín mươi lăm đồng). Như vậy, số tiền thu lợi bất chính đối với khoản vay này mà N đã nhận là: 10.000.000 đồng - 54.795 đồng = 9.945.205 đồng (chín triệu, chín trăm bốn mươi lăm nghìn, hai trăm lẻ năm đồng).
  • + Lần 03: Vào ngày 16/9/2023, sau khi trả tiền lần 02 thì N1 nói cần vay 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) tới ngày 18/9/2023 sẽ trả lại, đồng thời trả cho N số tiền lãi là: 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) thì N đồng ý, rồi N chuyển khoản cho N1. Tuy nhiên, đến hẹn N1 không trả được như thỏa thuận, N1 nói bạn của mình chưa xong việc, hẹn thêm vài ngày và trả thêm cho N tiền lãi. Đến ngày 20 và 21/9/2023, N1 chuyển khoản trả cho N 04 (bốn) lần, tổng cộng là: 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) để trả gốc, lãi đối với khoản vay này, trong đó tiền gốc là: 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) và tiền lãi là: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng); tương đương mức lãi suất là 1825%/năm.
  • Theo quy định, số tiền lãi mà N được thu là: Số tiền gốc (200.000.000 đồng) * Số ngày vay (05 ngày) * Lãi suất/ngày (20%/năm, tương đương lãi suất 0.05479%/ngày) = 547.954 đồng (năm trăm bốn mươi bảy nghìn, chín trăm năm mươi bốn đồng). Như vậy, số tiền thu lợi bất chính đối với khoản vay này mà N đã nhận là 50.000.000 đồng - 547.954 đồng = 49.452.055 đồng (bốn mươi chín triệu, bốn trăm năm mươi hai nghìn, không trăm năm lăm đồng).
  • + Lần 04: Vào ngày 22/9/2023, sau khi trả xong tiền lần 3 thì N1 hỏi vay lại, sau khi thỏa thuận N đồng ý và đã chuyển khoản cho N1 vay số tiền là: 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), thời gian vay trong vòng 05 (năm) ngày, N1 nói sẽ trả cho N mỗi ngày số tiền lãi là: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), tương đương mức lãi suất là: 2433,3%/năm. Đến ngày 26/9/2023, N1 chuyển khoản trả cho N như thỏa thuận với số tiền là: 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
  • Theo quy định, số tiền lãi mà N được thu là: Số tiền gốc (150.000.000 đồng) * Số ngày vay (05 ngày) * Lãi suất/ngày (20%/năm tương đương lãi suất 0.05479%/ngày) = 410.959 đồng (bốn trăm mười nghìn, chín trăm năm mươi chín đồng). Như vậy, số tiền thu lợi bất chính đối với khoản vay này mà N đã nhận là: 50.000.000 đồng - 410.959 đồng = 49.589.041 đồng (bốn mươi chín triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, không trăm bốn mươi mốt đồng).
  • + Lần 05: Đến ngày 27/9/2023, sau khi trả tiền đã vay của lần 4 thì N1 hỏi vay lại N số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), cũng nói là có mối làm ăn lớn, hứa hẹn trả cho N số tiền lãi mỗi ngày là: 5.000.000 đông (năm triệu đồng), tương đương mức lãi suất là 912.5%/năm thì N đồng ý, rồi N chuyển khoản cho N1, hẹn trả vào ngày 03/10/2023. Đến ngày 03/10/2023, N1 chỉ chuyển khoản trả trước cho N được số tiền lãi là: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), rồi ngày 05/10/2023, N1 chuyển khoản tiếp cho N được số tiền lãi là: 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Tổng cộng N1 trả cho N được 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) tiền lãi của 09 (chín) ngày (từ ngày 27/9/2023 đến ngày 05/10/2023) theo thỏa thuận. Ngoài ra, N1 không trả được tiền gốc đối với khoản vay này hay trả được thêm khoản tiền nào khác.
  • Theo quy định, số tiền lãi mà N được thu là: Số tiền gốc (200.000.000 đồng) * Số ngày vay (09 ngày) * Lãi suất/ngày (20%/năm, tương đương lãi suất 0.05479%/ngày) = 986.301 đồng (chín trăm tám mươi sáu nghìn, ba trăm lẻ một đồng). Như vậy, số tiền thu lợi bất chính đối với khoản vay này mà N đã nhận là: 45.000.000 đồng - 986.301 đồng = 44.013.699 đồng (bốn mươi bốn triệu, không trăm mười ba nghìn, sáu trăm chín mươi chín đồng).

Như vậy, từ ngày 20/8/2023 đến ngày 27/9/2023, Nguyễn Thị Phương N đã cho Nguyễn Thị Hồng N1 vay 05 (năm) lần với tổng số tiền gốc cộng dồn là: 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng) và với mức lãi suất từ 365% đến 3650%/năm (gấp từ 18,25 đến 182,5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự), N1 đã trả hết được tiền gốc, lãi của khoản lần 02, lần 03 và lần 04, với tổng số tiền là: 560.000.000 đồng (năm trăm sáu mươi triệu đồng), trong đó tiền gốc là: 450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi là: 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng); còn khoản lần 01 và lần 05 thì N1 chỉ trả được số tiền lãi là: 165.000.000 đồng (một trăm sáu mươi lăm triệu đồng), số tiền gốc chưa trả theo thỏa thuận là: 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Tổng số tiền lãi, N nhận theo thỏa thuận là: 275.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là: 8.575.342 đồng (tám triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn, ba trăm bốn mươi hai đồng) và số tiền thu lợi bất chính là: 266.424.658 đồng (hai trăm sáu mươi sáu triệu, bốn trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng).

Trên thỏa thuận thì bị cáo N đã cho N1 vay số tiền gốc cộng gộp trong 05 (năm) lần là: 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng), số tiền lãi bị cáo đã thu được là: 275.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng). Trong đó: Số tiền lãi được thu theo quy định là: 8.575.342 đồng (tám triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn, ba trăm bốn mươi hai đồng) và số tiền thu lợi bất chính là: 266.424.658 đồng (hai trăm sáu mươi sáu triệu, bốn trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng). Đây là số tiền được sử dụng làm căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo sử dụng tiền gốc để cho vay liên tục, nối tiếp nhau, không độc lập, nên số tiền gốc thực tế bị cáo đã cho vay là: 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), trong đó tiền của bị cáo là: 430.000.000 đồng (bốn trăm, ba mươi triệu đồng), còn số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) là tiền lãi mà bị cáo đã nhận và cho vay lại gồm 02 (hai) khoản tiền lãi 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) nhận vào ngày 30/8/2023 và ngày 09/9/2023 là: 60.000.000 đồng (số tiền lãi được thu là: 3.287.671 đồng, số tiền thu lợi bất chính là: 56.712.329 đồng) và khoản tiền lãi nhận ngày 15/9/2023 là: 10.000.000 đồng (số tiền lãi được thu là: 54.795 đồng, số tiền thu lợi bất chính là: 9.945.205 đồng). Vì vậy, trong số tiền lãi 275.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng) thì bị cáo N chỉ nhận thực tế số tiền là: 205.000.000 đồng (hai trăm lẻ năm triệu đồng), trong đó: Số tiền lãi được thu theo quy định là: 8.575.342 đồng - 3.287.671 đồng - 54.795 đồng = 5.232.877 đồng và số tiền thu lợi bất chính là 205.000.000 đồng - 5.232.877 đồng = 199.767.123 đồng (hoặc tính 266.424.658 đồng - 56.712.329 đồng - 9.945.205 đồng = 199.767.123 đồng).

Hiện tại, Nguyễn Thị Hồng N1 chưa trả cho N số tiền gốc đã vay là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) mà N1 vay vào các ngày 20/8/2023 và ngày 27/9/2023.

Đối với số tiền thu lợi bất chính mà N đã nhận thực tế là: 199.767.123 đồng (một trăm chín mươi chín triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi ba đồng), qua làm việc giữa bị cáo N và Nguyễn Thị Hồng N1 thì Nguyễn Thị Hồng N1 không yêu cầu N phải hoàn trả số tiền này, nên Cơ quan điều tra đã lập biên bản ghi nhận sự thỏa thuận giữa hai bên. Giai đoạn chuẩn bị xét xử Nguyễn Thị Hồng N1 yêu cầu bị cáo N phải trả cho N1 số tiền thu lợi bất chính 199.767.123 đồng nói trên.

Đối với số tiền lãi được thu theo quy định mà bị cáo đã nhận thực tế là: 5.232.877 đồng (năm triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi bảy đồng). Quá trình điều tra, bị cáo đã nộp lại cho Cơ quan điều tra số tiền là: 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Tại Bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phương N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Diễn biến tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm n, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương N số tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp:

  • * Buộc bị cáo Nguyễn Thị Phương N phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng N2 số tiền thu lợi bất chính 199.767.123 đồng (một trăm chín mươi chín triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi ba đồng).
  • * Truy thu đối với bị cáo Nguyễn Thị Phương N số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 2.232.877 đồng (hai triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi bảy đồng).
  • * Truy thu đối với bà Nguyễn Thị Hồng N1 số tiền gốc bị cáo N sử dụng để cho vay mà bà N1 chưa trả cho N là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 3.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Thị Phương N đã nộp trong giai đoạn điều tra (là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay).

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Thị Phương N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ Điều 292, Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Nhằm mục đích thu lợi từ việc cho vay tiền với mức lãi suất cao nên từ ngày 20/8/2023 đến ngày 27/9/2023, Nguyễn Thị Phương Nđã cho Nguyễn Thị Hồng N1 vay 05 (năm) lần, với tổng số tiền gốc cộng dồn là: 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng) với mức lãi suất từ 365% đến 3650%/năm, gấp từ 18,25 đến 182,5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, N1 đã trả hết được tiền gốc, lãi của khoản lần 02, lần 03 và lần 04, với tổng số tiền là: 560.000.000 đồng (năm trăm sáu mươi triệu đồng), trong đó tiền gốc là: 450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi là: 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng); còn khoản vay lần 01 và lần 05 thì N1 chỉ trả được số tiền lãi là: 165.000.000 đồng (một trăm sáu mươi lăm triệu đồng), số tiền gốc chưa trả theo thỏa thuận là: 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Tổng số tiền lãi N đã nhận theo thỏa thuận là: 275.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là: 8.575.342 đồng (tám triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn, ba trăm bốn mươi hai đồng) và số tiền thu lợi bất chính là: 266.424.658 đồng (hai trăm sáu mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng).

Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phương N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” với tình tiết định khung “Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực tín dụng, lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tài chính ngân hàng, xâm phạm lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Số tiền bị cáo đã hưởng lợi bất chính là 266.424.658 đồng.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tự nguyện nộp lại 3.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính; tại thời điểm phạm tội bị cáo là phụ nữ có thai, hiện đang nuôi con nhỏ; trong vụ án này, xuất phát từ việc tin tưởng những thông tin về hoạt động kinh doanh không có thật, cùng mức lãi suất cao mà Nguyễn Thị Hồng N1 chủ động đưa ra nên bị cáo đã nhiều lần cho vay lãi nặng. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nhưng nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, trong 05 (năm) lần cho vay lãi nặng thì có 04 (bốn) lần bị cáo thu lợi bất chính số tiền trên 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Xét bị cáo nhiều lần cho vay lãi nặng, gây thiệt hại về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an nên cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

Đối với số tiền bị cáo dùng để cho vay là 500.000.000 đồng, cần truy thu để sung Ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, người vay là bà Nguyễn Thị Hồng N1 chưa trả cho bị cáo 500.000.000 đồng tiền gốc. Vì vậy, cần buộc bà Nguyễn Thị Hồng N1 phải nộp lại 500.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

Đối với số tiền thu lợi bất chính mà N đã nhận thực tế là: 199.767.123 đồng (một trăm chín mươi chín triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi ba đồng). Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Hồng N1 không yêu cầu bị cáo N phải hoàn trả cho N1 số tiền này. Giai đoạn chuẩn bị xét xử Nguyễn Thị Hồng N1 yêu cầu bị cáo N phải trả cho N1 số tiền thu lợi bất chính 199.767.123 đồng nói trên. Vì vậy, buộc bị cáo N trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng N1 số tiền thu lợi bất chính 199.767.123 đồng.

Đối với số tiền lãi được thu theo quy định mà bị cáo đã nhận thực tế là: 5.232.877 đồng (năm triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi bảy đồng), trong giai đoạn điều tra bị cáo đã nộp lại cho Cơ quan điều tra số tiền là: 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), nên cần buộc bị cáo tiếp tục nộp số tiền còn lại là 2.232.877 đồng (hai triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi bảy đồng) để sung ngân sách nhà nước.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện việc cho vay có thu lợi, nên buộc bị cáo Nguyễn Thị Phương N phải nộp số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng tiền lãi tương ứng mức lãi suất quy định bị cáo N đã nộp tại giai đoạn điều tra.

[8] Đối với giao dịch giữa bị cáo và Nguyễn Thị Hồng N1 từ năm 2022 đến đầu tháng 8/2023, qua làm việc, bị cáo N và Nguyễn Thị Hồng N1 đều không trình bày cụ thể được giao dịch liên quan, không nhớ được về giao dịch diễn ra trong thời gian này và không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện nội dung cụ thể. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để chứng minh, làm rõ giao dịch vay, mượn tiền trong khoảng thời gian này, nên không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[9] Về nguồn gốc số tiền cho vay ở trên, bị cáo Nguyễn Thị Phương N khai nhận ngoài số tiền của mình thì còn mượn thêm của 02 (hai) chị ruột của mình là Nguyễn Thị Phương K và bà Nguyễn Thị Phương U. Qua làm việc, Nguyễn Thị Phương K và bà Nguyễn Thị Phương U đều trình bày giao dịch giữa các bên chỉ là vay, mượn tiền qua lại, không thỏa thuận lãi suất và thời gian đã lâu, nên không còn nhớ, xác định được cụ thể số tiền liên quan. Giữa các bên không lập giấy tờ với nhau và không còn lưu giữ tài liệu gì thể hiện cụ thể nội dung giao dịch. Đồng thời, các bà Nguyễn Thị Phương K và Nguyễn Thị Phương U không biết số tiền mà N mượn của mình được sử dụng để cho Nguyễn Thị Hồng N1 vay với lãi suất cao như trên. Vì vậy, Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với bà K và bà U là đúng quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Phương N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
  2. Về hình phạt:

    Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương N 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

  3. Về hình phạt bổ sung:

    Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự

    Buộc bị cáo Nguyễn Thị Phương N nộp 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.

  4. Về biện pháp tư pháp:

    Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, xử:
    • * Buộc bị cáo Nguyễn Thị Phương N phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng N1 số tiền thu lợi bất chính 199.767.123 đồng (một trăm chín mươi chín triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi ba đồng).
    • * Truy thu đối với bị cáo Nguyễn Thị Phương N số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là (5.232.877 đồng – 3.000.000 đồng) = 2.232.877 đồng (hai triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi bảy đồng) để sung ngân sách nhà nước.
    • * Truy thu đối với bà Nguyễn Thị Hồng N1 số tiền bị cáo N sử dụng để cho vay mà bà N1 chưa trả cho bị cáo N là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
  5. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng tiền lãi tương ứng mức lãi suất quy định bị cáo N đã nộp tại giai đoạn điều tra.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 06/8/2024 giữa Cục thi hành án dân sự huyện Chư Pưh và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Gia Lai).

  6. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Thị Phương N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Hồng N1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ tđể yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
  8. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự

    thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Chư Pưh;
  • - CQĐT Công an huyện Chư Pưh;
  • - CQTHAHS Công an huyện Chư Pưh;
  • - NTG Công an huyện Chư Pưh;
  • - CCTHADS huyện Chư Pưh;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Ngọc Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HSST ngày 02/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 40/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thông qua mối quan hệ giữa Nguyễn Thị Hồng Nga, (sinh năm 1987, trú tại Tổ dân phố 12, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê) và Nguyễn Thị Phương Khanh (sinh năm 1983, trú tại thôn Hòa Bình, thị trấn Nhơn Hòa, huyện Chư Pưh) mà Nguyễn Thị Phương Nhi (là em ruột của Nguyễn Thị Phương Khanh) quen biết với Nga. Từ năm 2022 đến đầu tháng 8/2023, Nguyễn Thị Hồng Nga bắt đầu vay tiền của Nhi nhiều lần và trả đủ theo thỏa thuận. Sau đó, Nga tiếp tục hỏi vay tiền Nhi, cũng nói để cho người khác vay lại lấy tiền lãi với lãi suất cao thì Nhi đồng ý cho vay. Từ ngày 20/8/2023 đến ngày 27/9/2023, Nhi đã cho Nga vay 05 (năm) lần. Hai bên trao đổi, nhắn tin qua lại với nhau qua tài khoản mạng xã hội Facebook và giao dịch chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng, không sử dụng tiền mặt (Nhi sử dụng tài khoản ngân hàng Vietinbank của mình mang số: 104005690194 để giao dịch với Nga qua tài khoản ngân hàng Vietinbank mang số: 105876684300 và tài khoản ngân hàng Agribank mang số: 5024215000280), cụ thể như sau:
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger