|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày: 25/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Thẩm phán phiên toà: Ông Lê Ngọc Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Uyên, ông Võ Chùm và ông Huỳnh Công Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đáng – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Thị M, sinh ngày: 12/02/1994, tại Phú Yên; Nơi cư trú: A L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1969 và bà Huỳnh Thị G, sinh năm 1968; Có chồng Trịnh Chấn Bảo K, sinh năm 1984 và 01 con, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt tại phiên toà.
-
Trịnh Chấn Bảo K, sinh ngày: 02/11/1984 tại Phú Yên; Nơi cư trú: A L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Thành L, sinh năm 1961 và bà Võ Thị Bạch T, sinh năm 1965; Có vợ Nguyễn Thị M, sinh năm 1994 và 01 con, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị M: Ông Đoàn Cửu V - Luật sư Công ty TNHH MTV K1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh P. Vắng mặt có gửi quan điểm bào chữa.
- Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Chấn Bảo K: Bà Trần Thị H1 - Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Khả T1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh P. Vắng mặt có gửi quan điểm bào chữa.
- Bị hại: Trần Thị Bích T2, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị G1, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, có mặt.
- Người làm chứng:
-
Trịnh Thị Kim L1, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Có mặt.
-
Lê Văn H2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Có mặt.
-
Bùi Thị P, sinh năm 1988; Nơi cư trú: 4 N, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2016 đến tháng 3/2021, vợ chồng Nguyễn Thị M và Trịnh Chấn Bảo K nợ nần của nhiều người, mất khả năng thanh toán, bị các chủ nợ gây sức ép nên để có tiền trả nợ và sử dụng cá nhân, K, M bàn bạc, thống nhất đưa ra thông tin gian dối là vay tiền để đáo hạn ngân hàng vì đang thế chấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại ngân hàng và hỏi bà Lê Thị G1 vay tiền nhưng bà G1 không có nên giới thiệu K, M đến nhà bà Trần Thị Bích T2 (em dâu bà G1) để vay tiền. Tin lời của vợ chồng K, M nên ngày 08/4/2021, tại nhà bà T2 ở khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, bà T2 cho K, M vay số tiền 1.000.000.000 đồng, K viết giấy hẹn 10 ngày sau trả. Tại thời điểm M, K nhận tiền của bà T2 thì có bà G1, chị Trịnh Thị Kim L1, anh Lê Văn H2 và chị Bùi Thị P cùng chứng kiến. anh H2 dùng điện thoại di động quay lại toàn bộ quá trình vay tiền. Sau khi nhận tiền, K, M sử dụng số tiền trên để trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Tại Bản kết luận giám định số 607 ngày 13/12/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh P, kết luận: Chữ viết (phần nội dung) và chữ viết ghi họ tên Trịnh Chấn Bảo K, Nguyễn Thị M trên Giấy mượn tiền đề ngày 08/4/2021, mượn của chị Trần Thị Bích T2 số tiền 1.000.000.000 đồng so với chữ viết của Trịnh Chấn Bảo K, Nguyễn Thị M là: Do cùng một người viết ra.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKSPY-P1 ngày 23/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Thị M và Trịnh Chấn Bảo K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Nguyễn Thị M và Trịnh Chấn Bảo K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản";
Áp dụng điểm a Khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 BLHS; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/11/2023; Bị cáo Trịnh Chấn Bảo K từ 07 năm đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 800.000.000đ, nghĩa vụ bồi thường của mỗi bị cáo là ngang nhau, mỗi bị cáo phải bồi thường 400.000.000đ.
Về án phí: Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với các bị cáo.
Quan điểm của Luật sư Trần Thị H1 bào chữa cho bị cáo Trịnh Chấn Bảo K: Về tội danh, thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một phần cũng vì thiếu hiểu biết pháp luật; hoàn cảnh gia đình khó khăn, nuôi con nhỏ, là lao động chính trong gia đình; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS nên mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và sớm hoà nhập cộng đồng.
Quan điểm của Luật sư Đoàn Cửu V bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị M: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu do hoàn cảnh điều kiện khó khăn vì các khoản nợ lãi vay ngoài xã hội cao nên mất khả năng thanh toán; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên toà, vắng mặt luật sư bào chữa cho các bị cáo nhưng các bị cáo đều đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Do đó, chấp nhận ý kiến của các bị cáo và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự. Toà án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Thị M, Trịnh Chấn Bảo K tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 08/4/2021, tại khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, vợ chồng Trịnh Chấn Bảo K, Nguyễn Thị M đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của bà Trần Thị Bích T2 số tiền 1.000.000.000 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Trịnh Chấn Bảo K, Nguyễn Thị M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS là có căn cứ, đúng tội.
[2.2] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Trong vụ án này, bị cáo M là người khởi xướng việc thực hiện tội phạm nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo M cao hơn so với bị cáo K. Xét các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục bồi thường cho bị hại 200.000.000đ quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 BLHS, xử phạt các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[3] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên toà, bị hại Trần Thị Bích T2 yêu cầu các bị cáo M, K phải bồi thường 1.000.000.000đ, các bị cáo đã bồi thường 200.000.000đ, còn tiếp tục phải bồi thường 800.000.000đ. Các bị cáo Nguyễn Thị M, Trịnh Chấn Bảo K đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nghĩa
vụ bồi thường của mỗi bị cáo là ngang nhau. Xét sự thỏa thuận của bị hại và các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận.
[4] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị M, Trịnh Chấn Bảo K bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và còn có nghĩa vụ bồi thường dân sự nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị M, Trịnh Chấn Bảo K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
-
Về hình phạt: Áp dụng điểm a Khoản 4 Điều 174; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt:
-
- Bị cáo Nguyễn Thị M – 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/11/2023.
-
- Bị cáo Trịnh Chấn Bảo K – 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của các bị cáo và bị hại. Các bị cáo Nguyễn Thị M, Trịnh Chấn Bảo K có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Trần Thị Bích T2 số tiền 800.000.000đ. Nghĩa vụ bồi thường của các bị cáo là ngang nhau, mỗi bị cáo phải bồi thường 400.000.000đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và phần nghĩa vụ chưa thi hành.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Thị M, Trịnh Chấn Bảo K mỗi bị cáo phải chịu: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M và đp
