|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 40/2024/HSST Ngày: 19 – 9 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Toàn
- Ông Nguyễn Thành Quý
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2004, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/HSST ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/XXHSST – HS, ngày 04/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên bị cáo: Nguyễn Văn C; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 01/12/2000, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; chức vụ, đảng phái: Quần chúng; con ông: Nguyễn Văn C1, sinh năm 1962; con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo Nguyễn Văn C bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, từ ngày 02/7/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Bị hại:
Bà Nguyễn Thị M1 – sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị M – sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
Ông Trần Văn T – sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Sửa chữa xe máy (Vắng mặt)
Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
Ông Trần Xuân H – sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
Ông Bùi Long V – sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 17/02/2024, Nguyễn Văn C điều khiển xe máy điện nhãn hiệu SONCO, 133M, màu đỏ, đen đi theo đường tỉnh lộ 551 từ xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, xuống xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh để tìm tài sản chiếm đoạt bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 12 giờ 45 cùng ngày, Nguyễn Văn C đi qua cánh đồng lúa thuộc địa phận thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, thì phát hiện chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1-2659 của chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1989, trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, dựng bên mép đường nội đồng cách đường Tỉnh lộ 551 khoảng 12 mét, còn bà M1 đang cúi người dắm lúa cách xe mô tô khoảng 50 mét, khi C điều khiển xe máy điện đi qua thì phát hiện chìa khóa xe đang cắm ở ổ khóa điện, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Tiếp đó Nguyễn Văn C điều khiển xe máy điện đến cửa hàng sửa chữa xe “Khang Khánh” của anh Trần Văn K, sinh năm 1980 ở thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh gửi xe máy điện của mình lại, rồi đi bộ đến vị trí chiếc xe mô tô của chị M1 đang dựng bên mép đường để chiếm đoạt. Khi C đến vị trí chiếc xe mô tô đang dựng thì thấy bà M1 đang cúi người xuống dắm lúa ở dưới ruộng, cách vị trí xe mô tô khoảng 50 mét, thấy vậy C đứng cạnh chiếc xe mô tô để mở khóa điện lên xe nổ máy đi, cùng lúc này do cúi người lâu mỏi lưng nên bà M1 đứng thẳng lên nhìn về phía xe mô tô thấy C đang đứng cạnh xe mô tô của mình, nên chị M1 hỏi C “Làm gì đó?”, biết chị M1 là chủ xe mô tô đã phát hiện ra mình chiếm đoạt xe mô tô của chị M1, nhưng do chị M1 ở cách xa nên C không nói gì mà vẫn công khai ngồi lên xe mô tô, nổ máy quay đầu xe rồi điều khiển xe mô tô bỏ chạy về hướng xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Biết C đã chiếm đoạt xe mô tô của mình, bà M1 hô lên “Để xe đó”, “Ăn trộm xe” và kêu lên có người ăn trộm xe nhưng do xung quanh không có người, nên chị M1 chạy bộ đuổi theo khoảng 100 mét, nhưng không kịp nên dừng lại đi bộ về trình báo sự việc với Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi chiếm đoạt xe mô tô Nguyễn Văn C điều khiển lên đến đường Q, thấy chị M1 không đuổi theo nữa nên dừng xe lại mở cốp xe ra kiểm tra thì thấy bên trong cốp xe có Giấy đăng ký xe mô tô, nên điều khiển xe mô tô đến cửa hàng sửa chữa xe mô tô “Đạt Trần” của anh Trần Văn T, sinh năm 2000, trú tại thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh nói dối xe của mình bán cho anh Trần Văn T với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Số tiền bán xe mô tô C chi tiêu cá nhân hết 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), còn lại 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) cất giữ trong người. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, C quay lại cửa hàng sữa chữa xe của anh Trần Văn K, ở thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh để lấy xe máy điện đi về nhà thì bị Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đưa về trụ sở để làm việc, tại đây C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền còn lại 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
Theo kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K thì chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Jupiter, màu đen, vàng, số khung RLCJ5B9607Y010620, số máy 5B96010620, biển kiểm soát: 38K1-2659, đăng ký ngày 25/10/2007, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Vật chứng thu giữ, xử lý: 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen, vàng biển kiểm soát 38K1-2659, thu của anh Trần Văn T. Hiện nay đã trả lại cho chủ sở hữu chị Nguyễn Thị M1 (Vợ anh Nguyễn Văn T1).
- 01 (Một) xe máy điện, nhãn hiệu SONCO, 133M, màu đỏ đen, thu của Nguyễn Văn C. Hiện này đã trả lại cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị M
+ Vật chứng thu giữ chưa xử lý:
- Tiền ngân hàng N đang lưu hành 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) thu của Nguyễn Văn C. Hiện nay đã chuyển đến tài khoản tạm giữ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số 38/CT- VKSKA ngày 14 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 172 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 172; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn C từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn C về cho UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Gia đình Nguyễn Văn C có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Nguyễn Văn C.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng)
Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước ở Nguyễn Văn C 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo: Xử buộc Nguyễn Văn C phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 17/02/2024, tại đường nội đồng thuộc địa phận thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân và trong khi biết được bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1989, trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 38K1-2659, đang dắm lúa dưới ruộng cách vị trí C khoảng 50 mét đã phát hiện ra C đang có hành vi chiếm đoạt xe mô tô của mình, nên hô hoán kêu lên, nhưng Nguyễn Văn C vẫn công khai thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1-2659 của bà Nguyễn Thị M1, trị giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), đưa đi bán cho anh Trần Văn T với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) lấy tiền chi tiêu cá nhân. Trong vụ án này chỉ có một mình Nguyễn Văn C thực hiện hành vi phạm tội.
Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn C xuất trình bệnh án, trước đó bị can điều trị bệnh tâm thần, tại bệnh viện T3, nên ngày 26/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, ra Quyết định trưng cầu giám định số 236/QĐ-CSĐT, ngày 26/3/2024 tại Viện pháp y tâm thần B miền trung để giám định về tâm thần đối với Nguyễn Văn C. Theo kết luận giám định số 13/KLGĐ, ngày 04/6/2024, của Phân viện pháp y tâm thần Bắc miền trung thuộc V1 kết luận: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn C bị bệnh: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác với Hội chứng nghiện theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10, năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh là: F16.2. Tại các thời điểm đã nêu trên, Nguyễn Văn C đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi
Hành vi của Nguyễn Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 172 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này chỉ một mình Nguyễn Văn C thực hiện, không có đồng phạm.
[3]. Tích chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Bị cáo lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu nên đã thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản, xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước, làm mất trật tự, trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn C được hưởng tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, theo quy định tại Điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 5 Điều 172 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000₫ đến 100.000.000đ, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Đối với các vấn đề liên quan:
Đối với ông Nguyễn Văn T2 là người đã mua chiếc xe mô tô do bị cáo Nguyễn Văn C chiếm đoạt được mà có với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng đồng). Kết quả điều tra xác định quá trình giao dịch, mua bán ông T2 hoàn toàn không biết đó là tài sản do Nguyễn Văn C chiếm đoạt được mà có nên không xem xét xử lý.
Đối với bà Nguyễn Thị M chủ sở hữu xe máy điện, nhãn hiệu SONCO, 133M, màu đỏ đen không biển kiểm soát là người để cho Nguyễn Văn C sử dụng xe mô tô đi sau đó thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định khi C sử dụng xe đi sau đó thực hiện hành vi phạm tội bà M không biết, nên không xem xét xử lý đối với bà Nguyễn Thị M.
[6]. Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị M1 - 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen, vàng biển kiểm soát 38K1-2659 và đã trả lại cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị M 01 (Một) xe máy điện, nhãn hiệu SONCO, 133M, màu đỏ đen, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Hiện nay còn lại số tiền ngân hàng N đang lưu hành 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Hội đồng xét xử xét thấy số tiền này do C công nhiên chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Jupiter, màu đen, vàng, số khung RLCJ5B9607Y010620, số máy 5B96010620, biển kiểm soát: 38K1-2659 của bà Nguyễn Thị M1 đem bán cho ông Trần Văn T mà có, nhưng hiện nay ông Trần Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 2.000.000₫ nói trên, nên số tiền này là do bị cáo phạm tội mà có, do đó cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) nói trên, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị M1 sau khi nhận lại xe mô tô có đơn không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn C bồi thường thiệt hại. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T có đơn không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn C bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[8]. Biện pháp tư pháp: Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước ở Nguyễn Văn C số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) số tiền này do C công nhiên chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Jupiter, màu đen, vàng, số khung RLCJ5B9607Y010620, số máy 5B96010620, biển kiểm soát: 38K1-2659 của bà Nguyễn Thị M1 đem bán cho ông Trần Văn T mà có, nhưng hiện nay ông Trần Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên số tiền này là do bị cáo phạm tội mà có, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 172; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1, Điều 3, khoản 1, Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn C phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt Nguyễn Văn C 07 (Bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn C về cho UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Gia đình Nguyễn Văn C có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Nguyễn Văn C.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng)
Biện pháp tư pháp: Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước ở Nguyễn Văn C 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng)
Về án phí: Xử buộc Nguyễn Văn C phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Hoàng |
Bản án số 40/2024/HSST ngày 19/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh về hình sự sơ thẩm (công nhiên chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 40/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Công nhiên chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”
