|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày: 15/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thúy Phương
- Bà Lê Thị Tây Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Nam Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đakrông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa: Ông Trần Nhật Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Việt H, sinh ngày 24 tháng 4 năm 2006, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1974; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 21/11/2023, đến ngày 19/01/2024 thì được cho bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Việt H: Ông Nguyễn Lương C2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Vắng mặt.
- Bị hại:
- + Anh Huỳnh Tứ H1, sinh năm 2004; nơi cư trú: 362/1 ấp K, xã T, Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.Vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 2002; nơi cư trú: 129A, khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Mỹ C3, sinh năm 2004; nơi cư trú: 129A, khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
1
Người làm chứng:
- + Bà Trần Thị H2, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- + Bà Lê Thị L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 9/2022, trong khi đang là học sinh trường Trung học phổ thông V, xã T, huyện T. H quen biết một thanh niên có tên thường gọi là “Bột” thông qua việc chơi Game với nhau ở thị xã Q. Khi biết “Bột” có sử dụng tài khoản trên trang HYPERLINK "http://weebly.com/" \t blank" weebly.comhack (chiếm quyền sử dụng) tài khoản Facebook của người khác. Nên H xin “Bột” một tài khoản trên trang này để tìm hiểu cách hack tài khoản Facebook của người khác nhằm lừa đảo chiếm đoạt tiền. Đến đầu tháng 3/2023, sau khi được “Bột” cho một tài khoản trên trang weebly.comtên đăng nhập “baplamluadao999@gmail.com. H tìm hiểu và thực hiện việc hack tài khoản khoản Facebook của người khác như sau. H sử dụng điện thoại di động IPHONE 8 có kết nối mạng Internet đăng nhập vào tài khoản nói trên sẽ lấy được đường link (là đường dẫn điện tử để liên kết các trang Web với nhau) dẫn đến trang web “binhchonstnnno1.weebly.com. Sau đó, H coppy đường link này gửi qua tin nhắn Facebook đến cho nhiều người khác nhau nhằm mục đích dẫn dụ những tài khoản Facebook này truy cập vào trang web “binhchonstnnno1.weebly.com và thực hiện việc đăng nhập vào tài khoản Facebook để bình chọn. Khi những người này thực hiện thao tác đăng nhập vào tài khoản Facebook thì H sẽ biết được thông tin và mật khẩu của các tài khoản Facebook này. Sau đó, H chiếm đoạt tài khoản Facebook (quyền sử dụng) của những người này, thay đổi mật khẩu, xem cách nói; ngôn ngữ; cách nhắn tin của các chủ tài khoản Facebook này với bạn bè, người thân. Rồi giả làm những người này nhắn tin vay mượn tiền bạn bè, người thân của chủ tài khoản này. Sau khi chiếm đoạt của nhiều người H không nhớ rõ là của ai được tổng số 24.000.000 đồng. H dùng số tiền chiếm đoạt mua điện thoại di dộng IPHONE 14 Pro Max và sử dụng điện thoại này để hack Facebook chiếm đoạt tiền của người khác, cụ thể như sau.
Ngày 15/7/2023, sau khi chiếm đoạt được quyền sử dụng tài khoản Faceook “Kim Ngân”, H đăng nhập vào tài khoản giả là chủ tài khoản Facebook “Kim N” nhắn tin cho tài khoản Facebook “Tứ Hải” của anh Huỳnh Tứ H1 để mượn tiền hai lần, sau khi anh H1 đồng ý thì H đưa số tài khoản B113531 của Nguyễn Văn Đ, để anh H1 chuyển tiền hai lần, một lần 800.000 đồng và 1.400.000 đồng. Cũng với hành vi tương tự như đã nêu trên, ngày 28/7/2023, H sử dụng tài khoản Facebook “Nguyễn Chi” của chị Nguyễn Thị Mỹ C3 nhắn tin cho tài khoản Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” của Nguyễn Thị Mỹ D (chị gái của C3) mượn
2
3.000.000 đồng. Sau đó, chị D đã chuyển 3.000.000 đồng vào số tài khoản B113531 của Nguyễn Văn Đ do H cung cấp.
Tiền sau khi được chuyển vào tài khoản B1 số 199910000913531 mang tên Nguyễn Văn Đ. Đây là tài khoản H chơi game “Kingfun” và được đại lý G cung cấp tài khoản để nạp tiền chơi game. Khi tiền được chuyển vào tài khoản này, thì được chủ tài khoản này xử lý số tiền đó theo yêu cầu của H và được chuyển về hai tài khoản BIDV số B1 mang tên Nguyễn Việt H và tài khoản MB số 0353219307 mang tên Nguyễn Anh Q (em trai H) mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 - Chi nhánh tỉnh Q hoặc chuyển vào tài khoản Game “Kingfun” của H có tên đăng nhập “Dixxxxau06”, mật khẩu “hung24042006Hh”.
Cáo trạng số: 34/CT-VKSĐKR ngày 23/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố bị cáo Nguyễn Việt H về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H từ 27 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự Buộc bị cáo Nguyễn Việt H phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Mỹ Duyên số tiền 3.000.000 đồng (bị cáo đã nộp và đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ số 3909.0.1047880.00000 của Chi cục Thi Hành án dân sự huyện Đakrông mở tại KBNN Đ).
Hình phạt bổ sung: Không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu tím, số Imei: 0356703856704159; số Imei 2: 356703856764666, số máy: MQ9T3VN/A, số sê-ri: D404WLWFN7, máy đã bị nứt màn hình, máy đã qua sử dụng; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.200.000 đồng tiền thu lợi bất chính do bị cáo phạm tội mà có; trả lại cho bị cáo 01 Thẻ ATM ngân hàng MB, màu xanh, số thẻ: 408904105907527, mang tên: NGUYEN VIET HUNG, số ID: 70356986.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa, luận cứ bào chữa nhất trí với tội danh Cáo trạng truy tố, các điều luật mà Kiểm sát viên, Viện kiểm sát
3
nhân dân huyện Đakrông đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54, khoản 1, 2 Điều 65; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H từ 14 đén 18 tháng tù, cho hưởng án treo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Ngày 15/7/2023 và ngày 28/7/2023, bị cáo Nguyễn Việt H đã sử dụng điện thoại di động có kết nối mạng Internet để truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Facebook “Kim Ngân”, chiếm đoạt quyền truy cập tài khoản rồi dùng tài khoản này liên hệ với F “Tứ Hải” của anh Huỳnh Tứ H1 để chiếm đoạt tiền hai lần với tổng số tiền là 2.200.000 đồng; chiếm đoạt, truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Facebook “Nguyễn C3” rồi sử dụng tài khoản này liên hệ với tài khoản Facebook “Nguyễn Thị Mỹ D” của chị Nguyễn Thị Mỹ D để chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, khẳng định hành vi của bị cáo cấu thành tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Việt H theo điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi: Hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã xâm phạm hoạt động bình thường trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông; xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tự
4
nguyện giao nộp số tiền 5.200.000 đồng để thực hiện bồi thường thiệt hại nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi; không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nên chỉ cần xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và cũng tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho xã hội (Căn cứ Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự).
Bị cáo hiện đang thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối bị cáo (Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự).
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Mỹ D vắng mặt tại phiên Tòa nhưng tài liệu trong hồ sơ thể hiện yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.000.000 đông bị chiếm đoạt. Yêu cầu bồi thường của chị Nguyễn Thị Mỹ D là có căn cứ và hợp pháp cần chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Mỹ D. Bị cáo đã nộp 5.200.000 đồng tiền bồi thường, số tiền còn lại 2.200.000 đồng bị hại Hoàng Tứ H3 không yêu cầu bồi thường, đây là khoản bị cáo thu lợi bất chính cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước (Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 1; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự)
[6] Về xử lý vật chứng:
- -01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu tím, số Imei: 0356703856704159; số Imei 2: 356703856764666, số máy: MQ9T3VN/A, số sê-ri: D404WLWFN7, máy đã bị nứt màn hình, máy đã qua sử dụng bị cáo sử dụng để phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước( Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự)
- -01 Thẻ ATM ngân hàng MB, màu xanh, số thẻ: 408904105907527, mang tên: NGUYEN VIET HUNG, số ID: 70356986 cần trả lại cho bị cáo (Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự)
[7] Về vấn đề khác:
Nguyễn Anh Q, Trần Thị H2, Lê Thị L là những người cho bị cáo mượn tài khoản để chuyển tiền nhưng đều không biết số tiền bị cáo chuyển khoản là do phạm tội mà có. HĐXX không xem xét
Ngoài ra Nguyễn Việt H còn chiếm đoạt tài khoản Facebook của: “Thanh Hương”, “Võ Công H4”, “Tiên N1”, “Trần M”, “Hiền Lương”
5
“Nguyễn Thanh T”, “Hồng Thái”, “Lê Thị Hồng N2”, “Trương Ngọc H5”, “Yếnn Nhii:, “Vũ Thị Thanh H6”, “Kiệt Trần”, “Ngọc D1”, “Mai Móm”, “Thanh Bùi”, “Châu Thư”, “Trần Thị Anh T1”, “Đặng Thị Quế A”, “Nii Kaa”, “Nguyễn Duy T2”, “Ngọc B”, “Đàm Thị P”, “Trâm Anh N3”, “Cẩm Tú”, “Nguyễn Hồng N4”, “Lâm Nhi”, “Mai Hồng A1”, “Na Tra Đi Bar”, “Phương Bùi”, “Thanh Liên”, “Huỳnh N5” trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến tháng 11/2023 để chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chưa xác định được bị hại. Hiện đang tiến hành thông báo truy tìm bị hại để xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Việt H phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2,5 Điều 65; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H 27 ( hai mươi bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 ( năm mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 15/8/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Việt H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Nguyễn Việt H phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Mỹ Duyên số tiền 3.000.000 đồng ( Bị cáo đã nộp và đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ số 3909.0.1047880.00000 của Chi cục Thi Hành án dân sự huyện Đakrông mở tại KBNN Đ).
4. Về khoản thu lợi bất chính: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 2.200.000 đồng bị cáo chiếm đoạt của bị hại Hoàng Tứ H3 mà bị hại Hoàng Tử H3 không yêu cầu bồi thường(Bị cáo
6
đã nộp và đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ số 3909.0.1047880.00000 của Chi cục Thi Hành án dân sự huyện Đakrông mở tại KBNN Đ).
5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu tím, số Imei: 0356703856704159; số Imei 2: 356703856764666, số máy: MQ9T3VN/A, số sê-ri: D404WLWFN7, máy đã bị nứt màn hình, máy đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo 01 Thẻ ATM ngân hàng MB, màu xanh, số thẻ: 408904105907527, mang tên: NGUYEN VIET HUNG, số ID: 70356986.
(Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông đang bảo quản theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị)
6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Việt H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Thu Hà |
7
8
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự (sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Việt H" sử dungj mnagj máy tính... thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
