TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày 30-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa
Bà Phan Thị Bích
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lý - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37a/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đặng Văn T; Sinh ngày 22/8/1967 tại Ninh Bình.
- Nguyễn Anh S1, Sinh ngày 29/7/1979 tại Ninh Bình.
- Nguyễn Đức T1; Sinh ngày 01/9/1989 tại Hòa Bình.
- Hoàng Tiến S3; Sinh ngày 02/8/1974 tại Hòa Bình.
- Bùi Công Đ, Sinh ngày 02/5/1987 tại Hòa Bình.
- Phạm Văn T3; Sinh ngày 01/10/1972 tại Thái Bình.
Nguyên quán: T, H, Ninh Bình; nơi cư trú: Khu phố Y, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Trưởng phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y; Đảng viên Đ2 (Đã bị khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định số: 1227-QĐ/TU ngày 04/7/2024 của Tỉnh ủy H8); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn S, sinh năm 1935 và bà: Giang Thị Q, sinh năm 1934 (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Oanh L, sinh năm 1972 và 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024, đến ngày 22/5/2024 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú,“có mặt”.
Nơi cư trú: Phố T, Thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Phó trưởng phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y; là Đảng viên Đ2 (đã bị khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định số 536-QĐ/UBKTHU ngày 02/7/2024 của Huyện ủy H8); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1944 và bà: Phạm Thị N, sinh năm 1948; có vợ là Đinh Thị N1, sinh năm 1984; Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
Nơi cư trú: L, Thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp, chức vụ trước khi phạm tội: Chuyên viên Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y; là Đảng viên Đ2 (đã bị khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định số: 257-QĐ/UBKTHU ngày 19/4/2024 của Huyện ủy H8); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức S2, sinh năm 1966 và bà: Trịnh Thị N2, sinh năm 1969; có vợ là Tống Thị Kiều O, sinh năm 1990; có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024, đến ngày 22/5/2024 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
Nguyên quán: Y, Ý, Nam Định; nơi cư trú: Phố Y, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp, chức vụ trước khi phạm tội: Trưởng phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Y; là Đảng viên Đ2 (Đã bị khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định số: 1225-QĐ/TU ngày 04/7/2024 của Tỉnh ủy H8); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Duy K1, sinh năm 1950 và bà: Nguyễn Thị D, sinh năm: 1951; có vợ là Bùi Mai H1, sinh năm: 1975 và 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
Nơi thường trú: Khu phố T, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nơi ở hiện tại: Xóm Á, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lái xe Ban QLDA ĐTXD và PTQĐ huyện Y; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức V, sinh năm 1955 và bà: Hoàng Thị L1, sinh năm 1959; có vợ là Bùi Thị T2, sinh năm 1994 và 04 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 07/7/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hoà Bình xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thừ thách là 18 tháng về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024, đến ngày 22/5/2024 được thay đổi biện pháp Tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
Nơi cư trú: Khu phố Y, Thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Kinh doanh; là Đảng viên Đ2 (hiện đã đề nghị đình chỉ sinh hoạt Đảng); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K2, và bà Phạm Thị R (đều đã chết); có vợ là Trần Thị T4, sinh năm 1974 và 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Hòa Bình; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Phòng Kinh tế hạ tầng huyện Y, tỉnh Hòa Bình;
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn T5 - Trưởng phòng “có mặt”
- + Hộ kinh doanh Phạm Xuân H2, địa chỉ: Khu phố Y, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Hộ kinh doanh Bùi Hồng S4, địa chỉ: Xóm Á, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Có mặt
- + Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1970, địa chỉ: Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Bà Bùi Thị T6, sinh năm 1986, địa chỉ: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. “vắng mặt”
- + Anh Đinh Thế X, sinh năm 1997, “vắng mặt”
- + Anh Quách Văn Hoàng Công G, sinh năm 2000, “vắng mặt”
- Cùng địa chỉ: Xóm Á, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
- + Ông Bùi Huy C1, sinh năm 1965, địa chỉ: Phố A, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/8/2021, UBND huyện Y ban hành Quyết định số 1609/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên và đột xuất các tuyến đường giao thông trên địa bàn huyện Y năm 2021, trong đó công tác bảo dưỡng thường xuyên có nội dung: “Tổng tuyến đường huyện duy tu bảo dưỡng thường xuyên là 105km, nội dung bảo dưỡng thường xuyên bao gồm: Cắt cây phát cỏ dọc các tuyến đường huyện, khơi thông cống rãnh khi trời mưa, sửa chữa cục bộ một số vị trí nhỏ trên các tuyến đường huyện; Kinh phí thực hiện: 500 triệu đồng”.
Sau khi có Quyết định 1609/QĐ-UBND của UBND huyện, Phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Y mới bắt đầu triển khai thực hiện công tác bảo dưỡng thường xuyên. Đặng Văn T thời điểm này giữ chức vụ Trưởng phòng Kinh tế và Hạ tầng đã phân công Nguyễn Đức T1 - chuyên viên phụ trách lĩnh vực giao thông triển khai thực hiện, phân công Nguyễn Anh S1 - Phó Trưởng phòng trực tiếp chỉ đạo. Với mong muốn có khoản kinh phí để trả các khoản nợ cũ và mua sắm trang thiết bị của đơn vị. Đặng Văn T, Nguyễn Anh S1 đã chỉ đạo Nguyễn Đức T1 lập hồ sơ nghiệm thu, thanh toán tăng, khống khối lượng so với thực tế thi công. Các bị cáo đã nhờ Hoàng Tiến S3 - nguyên Trưởng phòng Trưởng phòng Kinh tế và Hạ tầng ký khống, lập khống để hoàn thiện hồ sơ trong thời điểm Hoàng Tiến S3 giữ chức vụ Trưởng phòng Kinh tế và Hạ tầng (các Hợp đồng giao khoán, Biên bản nghiệm thu thanh lý hợp đồng thi công xây lắp công trình đối với 02 gói thầu Phát cây, cắt cỏ, bảo trì các tuyến đường huyện Y quý 1, quý 2 năm 2021); liên hệ thuê 02 nhóm thợ của Bùi Công Đ và nhóm thợ của Phạm Văn T3 trực tiếp thi công, sau đó sử dụng 02 hộ kinh doanh do Đ và T3 nhờ người khác đứng tên để hợp thức hồ sơ thanh toán, cụ thể:
- Hộ kinh doanh (HKD) Bùi Hồng S4, MST 8653473687, địa chỉ: xóm Á, xã Y, huyện Y thực hiện 04 gói thầu duy tu, bảo dưỡng, phát cây, cắt cỏ, khơi thông cống rãnh các tuyến đường huyện, tổng giá trị 384.498.000 đồng.
- Hộ kinh doanh (HKD) Phạm Xuân H2, MST 8013236222, địa chỉ: khu phố Y, thị trấn H, huyện Y thực hiện 02 gói thầu, tổng giá trị là 115.159.000 đồng. Tổng giá trị thanh toán là 499.657.000 đồng
Sau khi nhận được tiền thanh toán thông qua các gói thầu, Bùi Công Đ và Phạm Văn T3 đã chuyển lại cho phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Y là 422.000.000 đồng (Bốn trăm hai mươi hai triệu đồng), trong đó 04 hợp đồng ký với HKD Bùi Hồng S4 được Bùi Công Đ chuyển lại 322.000.000 đồng vào ngày 20/01/2022; 02 hợp đồng ký với HKD Phạm Xuân H2 được Phạm Văn T3 chuyển lại 100.000.000 đồng vào ngày 14/01/2022, cụ thể:
* Đối với 04 gói thầu ký với HKD Bùi Hồng S4:
Do có mối quan hệ xã hội và biết Bùi Công Đ - Sinh năm 1987, trú tại: Xóm Á, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình thường hay nhận công trình sửa chữa nhỏ trong huyện, Nguyễn Anh S1 đã trao đổi với Bùi Công Đ ngỏ ý muốn Đ thực hiện việc thi công, S1 nói với Đ trao đổi với Nguyễn Đức T1 để bàn bạc cụ thể nội dung công việc. Bùi Công Đ đã gặp Nguyễn Đức T1 và được T1 trao đổi lại việc đã được Nguyễn Anh S1 chỉ đạo giao cho Đ thực hiện công việc cắt cỏ, khơi thông cống rãnh các tuyến đường huyện Y năm 2021. T1 trao đổi với Đ nội dung công việc là thực hiện việc cắt cỏ, dọn hai bên lề đường tại các tuyến đường. T1 nói thực tế thi công chi phí hết bao nhiêu thì báo lại với T1 biết, Đ đồng ý thực hiện. Sau khi thống nhất Đ1 đã thuê các tổ thợ để thi công, cụ thể:
- Thuê tổ thợ của bà Bùi Thị T6 - Sinh năm 1986, trú tại: xóm T, xã Y, huyện Y để cắt cỏ các tuyến đường gồm:
- Tuyến đường từ thị trấn H đi xã H: thực hiện vào khoảng tháng 8/2021, gồm có 6 đoạn với tổng chiều dài 21.5km, tiền công được Đ1 và bà T6 thỏa thuận là 300.000 đồng/km, tổng số tiền bà T6 được Đ1 thanh toán là 6.000.000 đồng, ngoài ra Đ1 cho thêm 300.000 đồng. Việc thanh toán bằng tiền mặt không có ai chứng kiến.
- Tuyến đường từ L đi L: Thực hiện đầu tháng 9/2021, gồm 02 đoạn với tổng chiều dài là 22.6km, tiền công được Đ1 và bà T6 thỏa thuận là 7.000.000 đồng được chuyển vào số tài khoản 3008205177669 của bà T6 mở tại ngân hàng A chi nhánh Y. Toàn bộ nội dung thảo thuận, thanh toán tiền Định và bà T6 trao đổi tin nhắn qua ứng dụng ZALO.
- Thuê nhóm thợ do em vợ là Bùi Hồng S4 - Sinh năm 1999, giới thiệu để thi công cắt cỏ các tuyến đường từ thị trấn H đi xã H như trước đây nhóm thợ của bà T6 đã thực hiện trước đó. Thời gian nhóm này bắt đầu thực hiện là sau khoảng hơn 1 tháng khi bà T6 hoàn thành. Giá thuê được các bên thống nhất là 750.000 đồng/km. Tổng số tiền Định đã thanh toán cho nhóm thợ này là: 750.000 đồng x 20km = 15.000.000 đồng, trong đó trả tiền mặt cho Bùi Hồng S4, Đinh Thế X, Quách Văn Hoàng Công G mỗi người 5.000.000 đồng.
- Thuê ông Bùi Huy T7 - Sinh năm 1965, trú tại Phố A, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình sử dụng máy xúc để nạo vét rãnh, cạp lề hai bên đường T đường từ thị trấn H đi xã H có chiều dài toàn tuyến là 6,8km. Tiền công được Đ1 và ông Trương thỏa T8 theo ca máy và được tính 350.000 đồng/giờ, 01 ca tính 08 giờ. Thời gian ông T7 thực hiện là 02 ca, số tiền đã thanh toán là: 350.000 đồng x 8 giờ x 2 ca = 5.600.000 đồng.
Tổng số tiền Định đã thanh toán cho các tổ thợ là 33.900.000 đồng
Sau khi tính toán số tiền thực tế đã chi trả cho các nhóm thợ, tiền thuế phải đóng khi xuất hóa đơn và tiền công thực hiện, Đ1 báo lại cho T1 số tiền thanh toán là 62.000.000 đồng. T1 có đặt vấn đề việc nhờ Đ1 xuất hóa đơn và hoàn thiện hồ sơ để thanh toán toàn bộ nguồn kinh phí liên quan theo dự toán được duyệt. Đ1 đồng ý với đề xuất của T1 và thống nhất là sau khi được thanh toán sẽ chỉ giữ lại 62.498.000 đồng và chuyển cho T1 số tiền chênh lệch là 322.000.000 đồng.
Để hoàn thiện hồ sơ thanh toán, Nguyễn Đức T1 đã lập dự toán đối với công tác duy tu, bảo dưỡng, phát cây, cắt cỏ, khơi thông cống rãnh các tuyến đường huyện gồm 05 nội dung công việc thực hiện bao gồm: Cắt cỏ bằng má; Cắt phát quang cây cỏ bằng thủ công; Thuê người quét dọn xử lý phần cỏ bị cắt; Bạt lề đường bằng máy; Vét rãnh hình thang bằng máy.
Đồng thời Đ1 chuyển lại cho T1 thông tin đơn vị đứng tên trên hồ sơ thầu là HKD Bùi Hồng S4, MST: 8653473687 địa chỉ tại xóm Á, xã Y, huyện Y. Trên cơ sở thông tin do Đ1 cung cấp T1 đã lập 04 bộ hồ sơ thanh toán của 04 quý năm 2021.
Sau khi soạn thảo xong 04 bộ hồ sơ T1 chuyển lại cho Bùi Công Đ, Hoàng Tiến S3, Đặng Văn T, Nguyễn Anh S1 ký hoàn thiện. Đặng Văn T đã trao đổi và được Hoàng Tiến S3 đồng ý ký hoàn thiện các tài liệu gói thầu của quý I, quý II năm 2021. Sau đó T1 cầm hồ sơ lên phòng làm việc của Hoàng Tiến S3, tại đây Hoàng Tiến S3 ký lên 09 tài liệu của 02 gói thầu quý I, quý II. Đặng Văn T trực tiếp ký dưới mục “Đại diện chủ đầu tư”, “Đại diện bên A”, “Trưởng phòng” trên 17 tài liệu của 04 gói thầu; Nguyễn Anh S1 đã ký dưới mục “Đại diện chủ đầu tư” tại 04 “Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành” của 04 gói thầu; Bùi Công Đ đã tự ký tên “S1”, “Bùi Hồng S4” dưới mục “Đại diện bên B” trên 22 tài liệu của 04 gói thầu. Do thời điểm lập hồ sơ là vào cuối năm 2021 nên tại các Quyết định do Phòng Kinh tế và hạ tầng ký ban hành liên quan 04 gói thầu T1 đã tự nghĩ ra số để điền lên các văn bản.
Đến ngày 30/12/2021, Kho bạc Nhà nước huyện Y đã thanh toán 04 lần số tiền 384.498.000 đồng vào số tài khoản 3008222289999 đứng tên Bùi Hồng S4 mở tại ngân hàng A chi nhánh huyện Y. Sau khi được thanh toán Đ nhờ Bùi Hồng S4 ra ngân hàng làm thủ tục rút tiền, trong đó làm thủ tục để thanh toán số tiền 106.061.000 đồng trả nợ khoản Đ vay ngân hàng trước đó; chuyển 277.000.000 đồng vào tài khoản 3008123123888 đứng tên Bùi Công Đ mở tại ngân hàng A chi nhánh huyện Y, còn lại số tiền 1.437.000 đồng để lại trong tài khoản cho S4. Do số tiền thực tế thi công như đã tính toán và thống nhất với T1 là 62.498.000 đồng nên đến ngày 20/01/2022 Đ đã rút số tiền 264.000.000 đồng và thêm 58.000.000 đồng tiền mặt để thành 322.000.000 đồng chuyển lại cho T1. Số tiền này Đ để trong túi nilon, đưa cho T1 tại cổng trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Hoà Bình.
* Đối với 02 gói thầu ký với HKD Phạm Xuân H2
Phạm Văn T3 có quen biết từ trước với Đặng Văn T. Khoảng đầu tháng 12/2021, Đặng Văn T có gọi điện trao đổi với Phạm Văn T3 ngỏ ý muốn Tha thực hiện việc sửa chữa, “vá” ổ gà 02 tuyến đường: thị trấn H - H và L- Đ - L, huyện Y, T3 đồng ý thực. Để thực hiện công việc trên, T3 đã mua đá bây 4x6 chở đến tuyến đường sửa chữa, sử dụng máy xúc để múc đất và lu nèn. Tha là người trực tiếp có mặt tại hiện trường để chỉ đạo việc sửa chữa tại cả 02 tuyến đường. Sau khi hoàn thành việc sửa chữa Tha tổng hợp lại chi phí thực hiện là khoảng 15 triệu đồng và báo lại cho T1 biết để chuyển số tiền chênh lệch và hoàn thiện hồ sơ thanh toán như đã thống nhất từ trước.
Để hoàn thiện hồ sơ thanh toán, khoảng cuối tháng 12/2021 Nguyễn Đức T1 đã lập dự toán đối với công tác bảo trì các tuyến đường huyện đã điều chỉnh khối lượng thi công để phù hợp với nguồn kinh phí được cấp (sau khi đã trừ đi 04 gói thầu trước đó). Đồng thời Phạm Văn T3 chuyển lại cho Nguyễn Đức T1 thông tin đơn vị trên hồ sơ thầu là HKD Phạm Xuân H2, mã số thuế 8013236222, địa chỉ: khu phố Y, thị trấn H, huyện Y để đứng tên, hoàn thiện hồ sơ. Sau khi soạn thảo xong 02 bộ hồ sơ T1 chuyển lại cho Phạm Văn T3, Đặng Văn T, Nguyễn Anh S1 ký hoàn thiện. Từ ngày 11/01/2022 đến 13/01/2022, Kho bạc Nhà nước huyện Y đã thanh toán chuyển khoản vào số tài khoản 3008205082503 đứng tên Phạm Xuân H2 mở tại Agribank huyện Y số tiền 115.159.000 đồng
Do khi nhờ Phạm Xuân H2 - Sinh năm 1957, trú tại: khu phố H, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình thành lập, đứng tên hộ kinh doanh và mở tài khoản 3008205082503 mở tại ngân hàng A chi nhánh huyện Y, Phạm Văn T3 đã đề nghị ông H2 làm ủy quyền cho Nguyễn Ngọc C - Sinh năm 1970, trú tại: Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình sử dụng tài khoản. Do vậy, sau khi được thanh toán ngày 14/01/2022 Phạm Văn T3 đã đưa Nguyễn Ngọc C đến Ngân hàng A rút số tiền 115.00.000 đồng. Sau khi rút được tiền mặt Tha giữ lại số tiền thực tế thi công và chuyển lại tiền mặt cho T1 100.000.000 đồng.
* Việc quản lý, sử dụng số tiền 422.00.000 đồng của Phòng Kinh tế - hạ tầng huyện Y
Sau khi được Bùi Công Đ và Phạm Văn T3 chuyển lại 422.000.000 đồng Đặng Văn T giao Nguyễn Đức T1 quản lý. Số tiền này được chi tiêu hết vào các công việc chung của Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y (trả nợ hàng quán, mua máy tính, chúc tết...) nhưng không có chứng từ. Việc chi tiêu được Nguyễn Đức T1 lập bảng Excel theo dõi chi tiết (thời gian, số tiền, người chi tiền).
* Ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ban hành Quyết định Trưng cầu giám định số 333/QĐ-CSKT gửi Phòng PC09 Công an tỉnh H đề nghị giám định chữ ký, chữ viết Bùi Hồng S4, Bùi Công Đ, Phạm Văn T3, Phạm Xuân H2 trên hồ sơ, chứng từ thanh toán đối với 06 gói thầu duy tu bảo dưỡng thường xuyên, đột xuất các tuyến đường huyện năm 2021.
Tại bản Kết luận giám định số 180/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh xác định:
- Chữ ký, chữ viết đứng tên Bùi Hồng S4 trên các tài liệu cần giám định không phải do ông Bùi Hồng S4 ký và viết ra.
- Chữ ký, chữ viết đứng tên Bùi Hồng S4 trên các tài liệu cần giám định do ông Bùi Công Đ ký và viết ra
- Chữ ký, chữ viết đứng tên Phạm Xuân H2 trên các tài liệu cần giám định không phải do ông Phạm Xuân H2 ký và viết ra.
- Chữ ký, chữ viết đứng tên Phạm Xuân H2 trên các tài liệu cần giám định; Chữ viết họ tên "Phạm Xuân H2" trên các tài liệu cần giám định do Phạm Văn T3 ký và viết ra. (Bút lục 216, 217, 218)
Ngày 03/7/2024, Cơ quan CSĐT (CSKT) - Công an tỉnh H ra quyết định trưng cầu giám định số 861/QĐ-CSKT gửi Phòng PC09 Công an tỉnh H đề nghị giám định chữ ký, chữ viết, hình dấu trên các bộ hồ sơ thanh toán của 06 gói thầu.
Tại bản Kết luận giám định số 349/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của phòng K3 Công an tỉnh xác định:
- Hoàng Tiến S3 là người ký tên trên các Hợp đồng giao khoán, Biên bản nghiệm thu thanh lý hợp đồng thi công xây lắp công trình đối với 02 gói thầu Phát cây, cắt cỏ, bảo trì các tuyến đường huyện Y quý 1, quý 2 năm 2021.
- Đặng văn T là người ký tên trên 02 phụ lục hợp đồng điều chỉnh (đối với 02 gói thầu phát cây cắt cỏ trong quý 1, quý 2); Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành; liên 2 đối với 04 hóa đơn bán hàng của hộ kinh doanh Bùi Hồng S4 và liên 2 đối với 02 hóa đơn bán hàng của hộ kinh doanh P; 02 Hợp đồng giao khoán Về việc phát cây, cắt cỏ, bảo trì các tuyến đường huyện Y quý 3, quý 4 năm 2021; Biên bản nghiệm thu thanh lý hợp đồng về việc phát cây, cắt cỏ, bảo trì các tuyến đường huyện Y quý 3, quý 4 năm 2021 và biên bản nghiệm thu thanh lý hợp đồng đối với việc sửa chữa 02 tuyến đường của hộ kinh doanh Phạm Xuân H2; Quyết định phê duyệt dự toán công trình: Phát cây, cắt cỏ, bảo trì các tuyến đường huyện Y Quý 4 năm 2021; Quyết định về việc phê duyệt kết quả chỉ định đơn vị thi công xây dựng công trình: Phát cây, cắt cỏ, bảo trì các tuyến đường huyện Y Quý 4 năm 2021; Quyết định về việc phê duyệt kết quả chỉ định đơn vị thi công xây dựng công trình: Bảo trì tuyến đường L - Đ - L, huyện Y; Quyết định về việc phê duyệt dự toán công trình: Bảo trì tuyến đường T - H, huyện Y; Quyết định về việc phê duyệt kết quả chỉ định đơn vị thi công xây dựng công trình: Bảo trì tuyến đường T - H, huyện Y.
- Nguyễn Anh S1 là người ký tên trên 04 Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn công trình phát cây, cắt cỏ, bảo trì các tuyến đường huyện Y quý 1, quý 2, quý 3, quý 4 năm 2021 giữa H3 kinh doanh Bùi Hồng S4 với phòng Kinh tế và hạ tầng và Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành công trình: Bảo trì tuyến đường T - H, huyện Y giữa H3 kinh doanh Phạm Xuân H2 với phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y.
- Hình dấu tròn nội dung “CONG HOA XA HOI CHU NGHIA VIET NAM - PHÒNG KINH TE VA HA TANG H. YEN THUY T. HOA BINH” và hình dấu chức danh “ TRƯỞNG PHÒNG Đặng Văn T” đóng trên các hồ sơ tài liệu, chứng từ thanh toán liên quan đến 06 gói thầu duy tu, bảo dưỡng các tuyến đường là do cung một con dấu đóng ra (dấu tròn hiện đang được sử dụng và bảo quản tại phòng Kinh tế và Hạ tầng; dấu chức danh hiện đang được lưu giữ tại phòng Kinh tế và Hạ tầng)
* Việc xác định sai phạm trong việc thanh, quyết toán khoản kinh phí:
Kết quả phúc đáp của Sở T11; Sở Xây dựng; Phòng Tài chính kế hoạch huyện Y xác định việc phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y hợp thức hóa hồ sơ, nghiệm thu, thanh toán tăng, khống khối lượng so với thực tế là trái quy định của pháp luật.
* Việc xác định thiệt hại của vụ án:
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định Trưng cầu Giám định viên tư pháp Sở Xây dựng tỉnh T11 xác định khối lượng, giá trị chênh lệch giữa thi công thực tế tại hiện trường với hồ sơ nghiệm thu, thanh toán đối với 06 gói thầu. Mặc dù, không xác định được chính xác khối lượng thi công thực tế của 06 gói thầu nhưng quá trình điều tra xác định ngay từ ban đầu Phạm Văn T3 và Bùi Công Đ đã thỏa thuận, thống nhất với các cá nhân liên quan của Phòng Kinh tế và hạ tầng về việc thanh toán theo đúng khối lượng thực tế thực hiện. Do đó, có căn cứ xác định số tiền Bùi Công Đ và Phạm Văn T3 đã chuyển lại cho Phòng Kinh tế và hạ tầng, cụ thể: Đối với 04 gói thầu ký với HKD Bùi Hồng S4 thiệt hại ngân sách Nhà nước 322.000.000 đồng; 02 gói thầu ký với HKD Phạm Xuân H2 thiệt hại ngân sách Nhà nước 100.000.000 đồng là khoản thanh toán khống, không có khối lượng thi công.
Ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh H có văn bản số 932/CSKT gửi Sở Tài chính tỉnh T11 về việc xác định thiệt hại do hành vi vi phạm của các đối tượng gây ra trong vụ án. Kết quả phúc đáp của Sở Tài chính tỉnh T11 về việc xác định thiệt hại của vụ án hình sự: “Việc phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y thông đồng nghiệm thu, thanh toán tăng, khống khối lượng so với thực tế, hợp thức hóa hồ sơ 06 gói thầu để thanh toán số tiền 499.657.000 đồng, trong đó khối lượng thực tế thực hiện là 77.657.000 đồng, số tiền còn lại 422.000.000 đồng (đã nghiệm thu, thanh toán nhưng không có khối lượng) được xác định là thiệt hại cho ngân sách nhà nước”.
* Việc thu giữ và xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) USB, vỏ bằng nhựa màu đen, trên vỏ có ghi chữ Lexar, dung lượng 32G; 01(một) Bản in file Excel ghi chép nội dung thu chi số tiền 422.000.000 đồng; 06 (sáu) bộ hồ sơ thánh toán liên quan đến 06 gói thầu do Phòng Kinh tế và Hạ tầng giao nộp được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
- - Đối với 01 máy tính để bàn liền màn hình all in one nhãn hiệu Dell. Kết quả điều tra xác định tài liệu lưu giữ trong máy tính không liên quan đến vụ án, do vậy Cơ quan điều tra đã làm thủ tục trả lại cho chủ sở hữu là bị cáo Hoàng Tiến S3.
Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm, lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 61/CT-VKSHB-P1 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố các bị cáo về tội: Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Anh S1, Nguyễn Đức T1 truy tố theo điểm b,c khoản 2, Điều 356 ; bị cáo Bùi Công Đ truy tố theo điểm c, khoản 2, Điều 356; bị cáo Hoàng Tiến S3, Phạm Văn T3 truy tố theo quy định tại khoản 1, Điều 356 Bộ luật hình sự)
Tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa:
Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Anh S1, Nguyễn Đức T1, Bùi Công Đ, Hoàng Tiến S3, Phạm Văn T3 về tội: Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 356; điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Đặng Văn T từ 30 đến 36 tháng tù.
- Áp dụng điểm b,c khoản 2, khoản 4 Điều 356; điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Anh S1 từ 27 đến 30 tháng tù. Cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 đến 03 năm.
- Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 356; điểm b,s,t,v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Đức T1 từ 24 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b,s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Bùi Công Đ từ 24 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng.
- Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 356; điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Hoàng Tiến S3 từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 đến 03 năm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 356; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Phạm Văn T3 từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.
- Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
- + Đối với 01 (một) USB, vỏ bằng nhựa màu đen, trên vỏ có ghi chữ Lexar, dung lượng 32G; 01(một) Bản in file Excel ghi chép nội dung thu chi số tiền 422.000.000 đồng; 06 (sáu) bộ hồ sơ thánh toán liên quan đến 06 gói thầu do Phòng Kinh tế và Hạ tầng giao nộp đề nghị tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước tổng số tiền là 422.000.000 đồng là tiền các bị cáo nộp khắc phục hậu quả.
Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên lời trình bày tại cơ quan điều tra, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Lời nói sau cùng, các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Xuân H2, Nguyễn Ngọc C đã được triệu tập hợp lệ, vắng mặt, có đơn xét xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Các bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Anh S1, Nguyễn Đức T1, Hoàng Tiến S3, trước khi phạm tội đều là cán bộ của phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y, cùng với bị cáo Bùi Công Đ, Phạm Văn T3, vì động cơ vụ lợi cho tập thể và nâng cao uy tín cá nhân nên trong quá trình thực hiện công tác quản lý, bảo trì, duy tu, bảo dưỡng đường giao thông trên địa bàn huyện Y năm 2021, các bị cáo đã có hành vi lập hồ sơ thanh toán khống, làm trái công vụ gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước số tiền 422.000.000 đồng, cụ thể:
Bị cáo Đặng Văn T là người trực tiếp phân công bị cáo Nguyễn Anh S1, Nguyễn Đức T1 tổ chức thực hiện công tác duy tu, bảo dưỡng thường xuyên các tuyến đường giao thông trên địa bàn huyện Y năm 2021. Quá trình thực hiện bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Anh S1 đã chỉ đạo Nguyễn Đức T1 02 lần hợp thức hóa hồ sơ thanh toán, lập khống, tăng khối lượng đề nghị thanh toán số tiền 499.657.000 đồng của tổng 06 gói thầu để nhận lại tiền chênh lệch, gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước số tiền 422.000.000 đồng.
Bị cáo Hoàng Tiến S3 trong thời gian giữ chức vụ Trưởng phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Y từ tháng 5/2013 đến ngày 01/7/2021, bị cáo ký tên 09 tài liệu để hợp thức hoá hồ sơ thanh toán 02 gói thầu quý I, quý II năm 2021 gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là 193.044.000 đồng.
Bị cáo Bùi Công Đ và Phạm Văn T3 là những người được thuê thực hiện việc các công phát cây, cắt cỏ, khơi thông cống rãnh, và bảo trì, sửa chữa 02 tuyến đường. Các bị cáo đã thống nhất cùng với các cá nhân liên quan của Phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Y lập hồ sơ thanh toán tăng, khống khối lượng so với thực tế, cụ thể: Bị cáo Đ tham gia lập 04 hồ sơ gói thầu liên quan đến việc phát cây, cắt cỏ, rút số tiền 384.498.000 đồng, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là 322.000.000 đồng; bị cáo Phạm Văn T3 tham gia lập 02 hồ sơ bảo trì, sửa chữa 02 tuyến đường rút số tiền 115.159.000 đồng, số tiền gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là 100.000.000 đồng.
Như vậy trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, các bị cáo đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, làm trái công vụ gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước. Hành vi các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố các bị cáo về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Điều 356 Bộ luật hình sự năm 2015, trong đó bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Anh S1, Nguyễn Đức T1 bị truy tố theo điểm b,c khoản 2, Điều 356; bị cáo Bùi Công Đ truy tố theo điểm c, khoản 2, Điều 356; bị cáo Hoàng Tiến S3 và Phạm Văn T3 truy tố theo quy định tại khoản 1, Điều 356 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của các bị cáo:
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực bảo trì, duy tu, sửa chữa các công trình giao thông, vi phạm quy định pháp luật, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước. Từ đó, làm giảm sút uy tín của cơ quan tổ chức, của chính quyền địa phương. Ảnh hưởng lớn đến lòng tin của người dân vào các cơ quan quản lý nhà nước; gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo đều là những người có năng lực, trình độ chuyên môn trong lĩnh vực kinh tế hạ tầng, hiểu biết các quy định của pháp luật; các bị cáo cũng nhận thức được hậu quả của việc hợp thức hóa hồ sơ thanh toán, lập khống, tăng khối lượng để nhận lại số tiền chênh lệch là hành vi vi phạm nhưng chỉ vì vụ lợi mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo, đồng thời bảo đảm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét tính đồng phạm và vai trò của từng bị cáo nhận thấy:
Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, vì vậy Hội đồng xét xử cần đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội để cá thể hóa hình phạt đối với từng bị cáo trong vụ án như sau:
Đối với bị cáo Đặng Văn T: Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội giữ chức vụ Trưởng phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y, là người đứng đầu đơn vị, trực tiếp phân công Nguyễn Anh S1 và Nguyễn Đức T1 tổ chức thực hiện công tác duy tu, bảo dưỡng thường xuyên các tuyến đường giao thông trên địa bàn huyện Y năm 2021. Mặc dù nhận thức rõ việc khai khống, khai tăng khối lượng là trái quy định nhưng vẫn chỉ đạo cho cấp dưới thông đồng với các bên tham gia làm sai khối lượng thanh toán. Bị cáo ký tên trên 28 tài liệu để hợp thức hóa hồ sơ thanh toán, đây là căn cứ để Kho bạc Nhà nước huyện Y thanh toán số tiền là 499.657.000 đồng của 06 gói thầu, từ đó dẫn đến ngân sách Nhà nước bị thiệt hại số tiền 422.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo là lãnh đạo chủ chốt, giữ vai trò chính trong vụ án, là người chỉ đạo, tổ chức thực hiện do vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt nghiêm, tương xứng với vai trò, tính chất mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà mình gây ra.
Đối với bị cáo Nguyễn Anh S1: Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội giữ chức vụ Phó trưởng phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y, là người được giao trực tiếp chỉ đạo Nguyễn Đức T1 thực hiện, Nguyễn Anh S1 đã cùng Nguyễn Đức T1 hợp thức hóa hồ sơ thanh toán, lập khống, tăng khối lượng đề nghị thanh toán số tiền 499.657.000 đồng của 06 gói thầu để nhận lại tiền chênh lệch. Bản thân Nguyễn Anh S1 là người ký biên bản “Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành” của các gói thầu. Xét, bị cáo là lãnh đạo chủ chốt của đơn vị, phạm tội với vai trò thực hành trong vụ án, do vậy cần phải có hình phạt phù hợp với vai trò, tính chất mức độ hậu quả do bị cáo gây ra.
Đối với bị cáo Nguyễn Đức T1: Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là chuyên viên Phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Y, bị cáo là người tiếp nhận sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo phòng, được giao nhiệm vụ thực hiện việc công tác quản lý, bảo trì, duy tu, bảo dưỡng đường giao thông huyện Y năm 2021. Quá trình thực hiện bị cáo trực tiếp trao đổi, thống nhất với Bùi Công Đ và Phạm Văn T3 để lập khống hồ sơ thanh toán; trực tiếp xây dựng dự toán phù hợp, sát với nguồn kinh phí được phê duyệt; trực tiếp nhận 422.000.000 đồng từ Bùi Công Đ và Phạm Văn T3. Bị cáo đồng phạm với vai trò là người thực hành, thực hiện hành vi phạm tội theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Phòng Kinh tế và hạ tầng nên cần xem xét, đánh giá vai trò của bị cáo khi lượng hình để quyết định mức hình phạt thấp hơn các đồng phạm khác.
Đối với bị cáo Hoàng Tiến S3: Trong thời gian giữ chức vụ Trưởng phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Y từ tháng 5/2013 đến ngày 01/7/2021. Tuy không được hứa hẹn cho lợi ích vật chất, phi vật chất từ trước; không có động cơ vụ lợi cho cá nhân để thực hiện hành vi phạm tội nhưng sau khi được nhờ ký khống hồ sơ, bị cáo đồng ý ký tên lên 09 tài liệu để hợp thức hoá hồ sơ thanh toán 02 gói thầu quý I, quý II năm 2021, để chi trả các khoản nợ trong giai đoạn bị cáo giữ chức vụ trưởng phòng Kinh tế và hạ tầng. Ngoài ra bị cáo không được bàn bạc, tham gia hợp thức thanh toán khống đối với các gói thầu khác nên chỉ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại xảy ra tại 02 gói thầu này, số tiền gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là 193.044.000 đồng, nên cần xem xét, đánh giá vai trò của bị cáo khi lượng hình để quyết định mức hình phạt thấp hơn các đồng phạm khác.
Đối với bị cáo Bùi Công Đ: bị cáo là người được thuê thực hiện việc các công phát cây, cắt cỏ, khơi thông cống rãnh, quá trình thực hiện bị cáo đã thống nhất cùng với các cá nhân liên quan của Phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Y lập hồ sơ thanh toán tăng, khống khối lượng so với thực tế 04 hồ sơ gói thầu, rút số tiền 384.498.000 đồng, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là 322.000.000 đồng.
Đối với bị cáo Phạm Văn T3: bị cáo là người được thuê thực hiện bảo trì, sửa chữa 02 tuyến đường. Bị cáo đã thống nhất với các cá nhân liên quan của Phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Y và tham gia lập 02 hồ sơ thanh toán tăng, khống khối lượng so với thực tế, rút số tiền 115.159.000 đồng, số tiền gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là 100.000.000 đồng.
Xét các bị cáo Bùi Công Đ và Phạm Văn T3 tham gia vụ án với vai trò người thực hành, làm việc theo sự yêu cầu của phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Y nên cần xem xét, đánh giá vai trò của các bị cáo khi lượng hình để quyết định mức hình phạt phù hợp.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; cùng nhau khắc phục toàn bộ hậu quả, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Đặng Văn T, Hoàng Tiến S3, Nguyễn Anh S1, Nguyễn Đức T1 được Ủy ban nhân dân và Hội chữ thập đỏ huyện Y có công văn xin giảm nhẹ hình phạt vì có nhiều thành tích đóng góp trong công tác nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
- Đối với bị cáo Đặng Văn T: Quá trình công tác, Đặng Văn T được tặng 01 bằng khen của Thủ tướng chính phủ năm 2010; 01 bằng khen của Bộ trưởng Bộ K4 và đầu tư năm 2013; 01 kỷ niệm chương vì sự nghiệp tài chính Việt Nam của Bộ trưởng Bộ T12 năm 2013; Bị cáo có bố đẻ là ông Đặng Văn S được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; anh ruột là ông Đặng Văn H4 là liệt sỹ; bản thân bị cáo bị mắc nhiều bệnh dẫn đến suy giảm khả năng lao động phải nghỉ hưu trước tuổi là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại v, khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Đối với bị cáo Hoàng Tiến S3: Quá trình công tác, Hoàng Tiến S3 được tặng thưởng 01 bằng khen của Tỉnh ủy H8 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 05 năm liền 2012-2016; có nhiều năm được tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở (năm 2012, 2013, 2023); được tặng 09 Giấy khen các loại; được Ban chấp hành hội chữ thập đỏ huyện Y ghi nhận vắng mặt trong vai trò công tác từ thiện nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v, khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Đối với bị cáo Nguyễn Anh S1: Bị cáo Nguyễn Anh S1 có nhiều năm được tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở (năm 2015, 2016, 2022), bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Sơn H5 là thương binh loại A, thương tật hạng 2/4 (71%) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba; có mẹ đẻ là bà Phạm Thị N được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Đối với bị cáo Nguyễn Đức T1: Bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; quá trình công tác được tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở các năm 2017, 2018, được tặng 01 bằng khen và nhiều giấy khen; Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Đức T1 đã đầu thú, bản thân có nhiều đóng góp cho công tác thiện nguyện; có ông nội là ông Nguyễn Đức T9 là liệt sỹ, bà nội là bà Phạm Thị T10 được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, cụ nội là bà Trịnh Thị N3 được truy tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t, v khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
- Đối với bị cáo Bùi Công Đ: Bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; bị cáo có bố đẻ là ông Bùi Đức V có thời gian tham gia quân ngũ được tặng thưởng 01 Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba và 03 bằng khen nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Đối với bị can Phạm Văn T3: Có thời gian phục vụ trong quân ngũ (Lữ đoàn công binh 51C3) được tặng 02 giấy khen là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về hình phạt:
Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, trước khi phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với tất cả các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo thật tốt, làm người có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với các bị cáo Nguyễn Đức T1, Bùi Công Đ, Hoàng Tiến S3, Phạm Văn T3 thực hiện hành vi phạm tội theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y, có vai trò không đáng kể, có khả năng tự cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội mà không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi gia đình, xã hội và các bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Do đó, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo như đề xuất của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình là có căn cứ nên được chấp nhận.
[7] Đối với những cá nhân khác:
Đối với Lãnh đạo, cán bộ chuyên viên Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Y gồm: Bùi Đại H6, Nguyễn Thùy L2, Bùi Văn C2, Bùi Văn Q1 được biết đơn vị thi công chuyển lại tiền do Đặng Văn T thông báo qua cuộc họp đơn vị nhưng không biết lý do được chuyển lại tiền do không được bàn bạc, tham gia trong quá trình triển khai các gói thầu, lập khống hồ sơ thanh toán, không được biết về thực tế khối lượng thi công. Do vậy, không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự trong vụ án này là có căn cứ.
Đối với Bùi Hồng S4: là người được Bùi Công Đ nhờ lập, đứng tên hộ kinh doanh Bùi Hồng S4. Bản thân Bùi Hồng S4 không được bàn bạc, tham gia về việc lập hồ sơ thanh toán tăng, khống khối lượng so với thực tế thi công đối với 04 gói thầu do Bùi Công Đ thực hiện; không phải là người ký tên trên hồ sơ thanh toán các gói thầu này. S4 là người thực hiện việc cắt cỏ tại một số tuyến đường và được trả công theo thỏa thuận, tuy nhiên việc Bùi Công Đ thuê các nhóm thợ khác thực hiện các công việc trong gói thầu S4 không biết do vậy khi được Đ nhờ rút số tiền thanh toán của các gói thầu S4 không biết đây là khoản tiền do Đ thông đồng với các cá nhân liên quan để thanh toán khống, tăng khối lượng so với thực tế. Do vậy, không đề cập xử lý đối với Bùi Hồng S4 trong vụ án này là có căn cứ.
Đối với Phạm Xuân H2: là người được Phạm Văn T3 nhờ lập, đứng tên hộ kinh doanh Phạm Xuân H2. Bản thân Phạm Xuân H2 không được bàn bạc, tham gia về việc lập hồ sơ thanh toán tăng, khống khối lượng so với thực tế thi công đối với 02 gói thầu do Phạm Văn T3 thực hiện; không phải là người ký tên trên hồ sơ thanh toán các gói thầu này. Do vậy, không đề cập xử lý đối với Phạm Xuân H2 trong vụ án này là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Ngọc C, là người trực tiếp rút số tiền 115.000.000 đồng thanh toán tại 02 gói thầu do Phạm Văn T3 thực hiện. Việc rút tiền này là do từ trước Nguyễn Ngọc C được Phạm Văn T3 nhờ đứng tên ủy quyền sử dụng tài khoản 3008205082503 đứng tên Phạm Xuân H2 mở tại Agribank huyện Y. Ngoài việc rút số tiền nêu trên Nguyễn Ngọc C không biết, không được bàn bạc, tham gia về việc lập hồ sơ thanh toán tăng, khống khối lượng so với thực tế thi công đối với 02 gói thầu do Phạm Văn T3 thực hiện, không được hưởng lợi từ việc làm này. Sau khi rút tiền đã chuyển lại cho Phạm Văn T3 và không biết việc T3 chuyển lại tiền cho Phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Y. Do vậy, không đề cập xử lý đối với Nguyễn Ngọc C trong vụ án này là có căn cứ.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 (một) USB, vỏ bằng nhựa màu đen, trên vỏ có ghi chữ Lexar, dung lượng 32G; 01(một) Bản in file Excel ghi chép nội dung thu chi số tiền 422.000.000 đồng; 06 (sáu) bộ hồ sơ thánh toán liên quan đến 06 gói thầu do Phòng Kinh tế và Hạ tầng giao nộp tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 máy tính để bàn liền màn hình all in one nhãn hiệu Dell, vỏ màu đen, đã qua sử dụng được thu giữ tại phòng làm việc của Hoàng Tiến S3. Kết quả điều tra xác định tài liệu lưu giữ trong máy tính không liên quan đến vụ án, do vậy Cơ quan điều tra đã làm thủ tục trả lại cho chủ sở hữu là bị can Hoàng Tiến S3 là có căn cứ.
- Đối với số tiền 422.000.000 đồng là tiền do các bị cáo phạm tội mà có, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh:
- Về điều luật áp dụng:
- - Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 356; điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Đặng Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 02 năm 2024, đến ngày 22 tháng 5 năm 2024
- - Áp dụng điểm b,c khoản 2, khoản 4 Điều 356; điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Anh S1 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Cấm bị cáo Nguyễn Anh S1 đảm nhiệm chức vụ trong thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày chấp hành xong bản án.
- - Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 356; điểm b,s,t,v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Đức T1 24 (hai mươi tư) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b,s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Bùi Công Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 356; điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Hoàng Tiến S3 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Cấm bị cáo Hoàng Tiến S3 đảm nhiệm chức vụ trong thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày chấp hành xong bản án.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 356; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Phạm Văn T3 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về vật chứng:
- - Đối với 01 (một) USB, vỏ bằng nhựa màu đen, trên vỏ có ghi chữ Lexar, dung lượng 32G; 01(một) Bản in file Excel ghi chép nội dung thu chi số tiền 422.000.000 đồng; 06 (sáu) bộ hồ sơ thánh toán liên quan đến 06 gói thầu do Phòng Kinh tế và Hạ tầng giao nộp tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 422.000.000 (Bốn trăm hai mươi hai triệu đồng) theo biên lai số 0002636 ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình. Hiện số tiền 422.000.000 (Bốn trăm hai mươi hai triệu đồng) đang lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo:
Tuyên bố các bị cáo: Đặng Văn T, Nguyễn Anh S1, Nguyễn Đức T1, Bùi Công Đ, Hoàng Tiến S3 và Phạm Văn T3 phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”
Giao các bị cáo Nguyễn Đức T1, Bùi Công Đ, bị cáo Hoàng Tiến S3 và Phạm Văn T3 cho Ủy ban nhân dân T, huyện Y, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo Nguyễn Đức T1, Bùi Công Đ, bị cáo Hoàng Tiến S3 và Phạm Văn T3 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật Luật Thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Anh S1, Nguyễn Đức T1, Bùi Công Đ, Hoàng Tiến S3 và Phạm Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
20
BIÊN BẢN GIAO NHẬN BẢN ÁN HSST LẦN 2
- Đặng Văn T; Nơi cư trú: Khu phố Y, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
- Nguyễn Anh S1, Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
- Nguyễn Đức T1, Nơi cư trú: Khu L, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
- Hoàng Tiến S3, Nơi cư trú: Khu phố Yên Phong, thị trấn Hàng Trạm, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
- Bùi Công Đ; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Nơi ở hiện tại: Xóm Á, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
- Phạm Văn T3, Nơi cư trú: Khu phố Y, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
- - TAND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND tỉnh Hòa Bình;
- - Trại TG-CA tỉnh H;
- - Cục THADS tỉnh H;
- - Huyện ủy Yên Thủy
- - Tỉnh ủy Hòa Bình
- - U – yên thủy
Người gửi
Bùi Thị H7
21
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ356
