|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày: 30/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Y.
- Ông Trương Văn Hậu.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Lan-Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/HSST ngày 29/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 13/8/2024 đối với bị cáo:
Đặng Thị B (tên gọi khác: T) -sinh năm 1986, tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Khu phố F, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Nơi tạm trú: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Đặng Văn L (đã chết) và bà Tô Thị L1-sinh năm: 1966. Có chồng tên Nguyễn Văn H-sinh năm 1975 và con có 04 người, lớn nhất sinh năm 2002; nhỏ nhất sinh năm 2019;
Tiền án: không;
Tiền sự: Ngày 22/12/2023, Đặng Thị B bị Ủy ban nhân dân huyện N xử phạt vi phạm hành chính số tiền 15.000.000 đồng về hành vi “không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền không cầm cố tài sản hoặc cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự”.
Nhân thân: Ngày 15/9/2020, Đặng Thị B bị Toà án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “đánh bạc” và đã chấp hành án xong.
Bị cáo đang bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- +Bà Huỳnh Thị L2–sinh năm: 1974 (vắng mặt);
- Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện N, Ninh Thuận;
- +Bà Hồ Thị Hồng C –sinh năm: 1988 (vắng mặt);
- Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện N, Ninh Thuận;
- +Ông Huỳnh Văn Q–sinh năm: 1976 (vắng mặt);
- +Ông Trần Quang T1–sinh năm: 1983 (vắng mặt);
- +Ông Nguyễn Văn H–sinh năm: 1975 (có mặt);
- +Ông Nguyễn Hữu Đ−sinh năm: 1994 (vắng mặt);
- Cùng địa chỉ: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, Ninh Thuận.
- +Bà Nguyễn Thị H1–sinh năm: 1994 (có mặt);
- Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn P, huyện N, Ninh Thuận;
-Người làm chứng:
- +Bà Huỳnh Thị P –sinh năm: 1971 (vắng mặt);
- +Bà Lê Thị L3 –sinh năm: 1973 (vắng mặt);
- +Bà Nguyễn Thị H2 –sinh năm: 1979 (vắng mặt);
- +Bà Huỳnh Thị H3 –sinh năm: 1962 (vắng mặt);
- Cùng địa chỉ: Khu phố E, thị trấn P, huyện N, Ninh Thuận.
- +Ông Lê Văn H4 –sinh năm: 1995 (vắng mặt);
- Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, Ninh Thuận.
- +Bà Nguyễn Thị Thanh T2 –sinh năm: 1984 (vắng mặt);
- Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện N, Ninh Thuận;
- +Ông Nguyễn Văn P1 –sinh năm: 2002 (vắng mặt);
- Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, Ninh Thuận;
- +Bà Lê Thị Bích H5 –sinh năm: 1978 (vắng mặt);
- Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, TP P-T, Ninh Thuận;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 28/2/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N nhận được đơn tố cáo của người dân về việc Đặng Thị B cùng một số đối tượng khác có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Ngày 10/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Thị B tại khu phố A, thị trấn P, huyện N, tạm giữ: 01 điện thoại di động; số tiền 17.300.000đ; 01 cuốn hộ chiếu tên Huỳnh Thị H3; 02 cuốn vở; 02 giấy mượn tiền; 02 gậy bằng kim loại; 02 súng bắn điện; 02 dây sạc điện; 10 đầu phóng điện; 05 cuốn sổ tay.
Khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị H1 tại khu phố D, thị trấn P, huyện N, tạm giữ: 01 điện thoại di động; số tiền 7.630.000đ; 03 căn cước công dân; 02 bản phô tô căn cước công dân; 02 cuốn vở; 02 hộp kim loại; 01 ví màu hồng; 01 sổ tay nhỏ màu đen.
Qua điều tra xác định: Đặng Thị B có hành vi cho một số người dân ở huyện N vay tiền với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 03 năm 2024, B đã
cho bốn người là anh Trần Quang T1, chị Hồ Thị Hồng C, anh Huỳnh Văn Q, bà Huỳnh Thị L2, vay tiền với các hình thức vay “trả góp” và vay “đứng”.
Khi vay “trả góp”, người vay phải trả lãi và gốc hàng ngày trong vòng 26 ngày với mức lãi suất là 415%/năm; Khi vay “đứng”, người vay phải trả lãi hàng ngày đến khi có tiền trả đủ gốc với lãi suất 720%/năm. Tổng số tiền gốc B đã cho bốn người trên vay là 40.500.000đ, tổng số tiền lãi đã thu được 4.680.769đ, trong đó: tiền lãi 20%/năm theo Bộ Luật Dân sự là 201.944đ, tiền lãi bất hợp pháp là 4.478.825đ. Tiền gốc mà 04 người vay chưa trả cho B là 19.345.000đ, cụ thể:
- Anh Trần Quang T1 vay tiền của Đặng Thị B như sau:
+Ngày 22/02/2024, T1 vay 2.500.000đ bằng hình thức vay đứng, thỏa thuận trả lãi 50.000đ/ngày. Thái trả được 17ngày x 50.000đ/ngày = 850.000đ. Trong đó lãi theo BLDS 23.611đ và lãi vượt quá 826.389đ. Tiền gốc chưa trả.
+Ngày 09/3/2024, T1 vay 5.000.000đ, bằng hình thức trả góp, thỏa thuận trả 250.000/ngày, trả trong 26 ngày). Thái trả được 01 ngày là 250.000đ. Trong đó lãi theo BLDS 2.778đ và lãi vượt quá 54.915₫.
Sau này T1 tiếp tục trả một số tiền gốc cho B. Sau khi tính toán hai khoản vay trên thì Bé và T1 đều xác nhận T1 còn nợ B là 3.500.000đ.
- Chị Hồ Thị Hồng C vay tiền của Đặng Thị B:
+Ngày 02/3/2024, C vay 10.000.000đ bằng hình thức vay trả góp, thỏa thuận trả 500.000đ/ngày, trả trong 26ngày), Chi trả được 05ngày x 500.000đ/ngày = 2.500.000đ. Trong đó lãi theo BLDS 27.778đ và lãi vượt quá 549.145đ. Tiền gốc đã trả 1.923.077d. Tiền gốc chưa trả (10.000.000₫ - 1.923.077đ) = 8.076.000đ (làm tròn số).
+Ngày 07/3/2024, C vay 5.000.000₫ bằng hình thức vay đứng, thỏa thuận trả lãi 100.000/ngày, trả đến khi trả hết tiền gốc. Chi trả được 03ngày x 100.000đ/ngày =300.000đ. Trong đó lãi theo BLDS 8.333đ, lãi vượt quá 291.667đ. Tiền gốc chưa trả.
Từ ngày 10/3/2024 đến ngày 21/6/2024, C tiếp tục trả một số tiền gốc cho B. Quá trình điều tra Bé, C đều xác nhận C còn nợ Bé số tiền 7.500.000₫.
- Anh Huỳnh Văn Q vay tiền của Đặng Thị B:
+Tháng 02/2024 (không nhớ ngày), Q vay 5.000.000đ, hình thức trả góp, trả 250.000/ngày, trả trong 26ngày), Q trả hết 26ngày x 250.000đ =6.500.000đ. Trong đó lãi theo BLDS 72.222đ, lãi vượt quá 1.427.778đ. Tiền gốc trả hết.
+Ngày 09/3/2024, Q vay 5.000.000₫ bằng hình thức trả góp, thỏa thuận trả 250.000/ngày, trả trong 26ngày), Q trả được 01ngày = 250.000đ. Trong đó lãi theo BLDS 2.778đ và lãi vượt quá 54.915₫. Tiền gốc đã trả 192.308đ, tiền gốc chưa trả (5.000.000₫ – 192.308đ) = 4.807.000đ (làm tròn số).
Quá trình điều tra Bé và Q đều xác nhận Q còn nợ Bé 4.807.000đ.
- Bà Huỳnh Thị L2 (Dì T3) vay tiền của Đặng Thị B:
+Tháng 01/2024 (không nhớ ngày), L2 vay 4.000.000đ, hình thức trả góp, thỏa thuận trả 200.000/ngày, trả trong 26ngày), L2 trả hết 26ngày x 200.000₫ = 5.200.000₫. Trong đó lãi theo BLDS 57.778đ, lãi vượt quá 1.142.222đ. Tiền gốc trả hết.
+Ngày 07/3/2024, L2 vay 4.000.000₫ bằng hình thức trả góp, thỏa thuận trả 200.000/ngày, trả trong 26ngày), L2 trả được 03 ngày x 200.000₫ = 600.000đ. Trong đó lãi theo BLDS 6.667đ và lãi vượt quá 131.795đ. Tiền gốc đã trả 461.538đ, tiền gốc chưa trả (4.000.000₫ – 461.538đ) = 3.538.000đ (làm tròn số).
Quá trình điều tra Bé và L2 đều xác nhận L2 còn nợ Bé 3.538.000đ.
*Vật chứng:
+01 điện thoại di động Bé sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
+Số tiền 17.300.000đ: Trong đó: 15.000.000₫ là tiền của Nguyễn Văn H (chồng Bé) thế chấp chiếc xe mô tô và 500.000đ là tiền của Nguyễn Hữu Đ góp cho vợ chồng B để làm đám giỗ. Số tiền của H, Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả lại; còn lại 1.800.000đ là tiền B thu lợi bất chính từ người vay thì tạm giữ.
+01 cuốn vở, 04 cuốn sổ tay, 02 giấy vay mượn tiền-xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả lại cho B. 01 cuốn hộ chiếu tên Huỳnh Thị H3 -đưa cho B giữ khi vay tiền trước ngày B bị xử phạt vi phạm hành chính nên đã trả cho H3.
+02 gậy bằng kim loại; 02 súng bắn điện; 02 dây sạc điện; 10 đầu phóng điện là công cụ hỗ trợ của Nguyễn Văn H mua trên mạng xã hội về để sử dụng vào mục đích phòng thân, không liên quan đến hành vi phạm tội của B, nên tách chuyển xử phạt hành chính.
+01 điện thoại di động; số tiền 7.630.000 đ; 03 căn cước công dân; 02 bản phô tô căn cước công dân; 02 cuốn vở; 02 hộp kim loại; 01 ví; 01 sổ tay -xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả lại cho Nguyễn Thị H1.
* Dân sự:
+ Số tiền gốc 40.500.000đ, Bé cho Trần Quang T1, Hồ Thị Hồng C, Huỳnh Văn Q, Huỳnh Thị L2 vay: Bé đã thu được 21.155.000đ và tiêu xài hết; còn lại 19.345.000₫ người vay chưa trả (trong đó:Thái: 3.500.000đ;Chi:7.500.000đ; Q: 4.807.000đ; Lệ: 3.538.000₫).
+ Số tiền lãi 4.680.769đ, B đã thu từ bốn người vay là T1, C, Q, L2 (trong đó tiền lãi theo pháp luật dân sự: 201.944đ, tiền lãi thu lợi bất chính: 4.478.825đ): Cơ quan điều tra đã tạm giữ 1.800.000đ khi khám xét, còn lại Bé đã tiêu xài 2.880.769₫.
Tại Cáo trạng số 39/CT-VKS-HS ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát huyện N đã truy tố Đặng Thị B về tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tại khoản 1 Điều 201 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS. Tuyên bố bị cáo B phạm tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Xử phạt bổ sung từ 30.000.000₫ đến 40.000.000₫.
Bị cáo không tranh luận gì; Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai trái và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên. Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét việc vắng mặt của những người trên không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
[3] Tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo: Xét lời khai của bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại cơ quan điều tra, cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đủ cơ cở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2024 đến ngày 09/3/2024, Đặng Thị B đã cho bốn người trên địa bàn huyện N gồm Trần Quang T1, Hồ Thị Hồng C, Huỳnh Văn Q, Huỳnh Thị L2, vay tiền với mức lãi suất từ 415% đến 720%/năm, tổng số tiền cho vay 40.500.000đồng, tổng lãi đã thu 4.680.769 đồng (trong đó: lãi theo quy định của Bộ luật dân sự là 201.944 đồng; lãi thu lợi bất chính là 4.478.825 đồng).
Đặng Thị B là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, nhưng vì tham lam, muốn hưởng lợi bất chính nên B vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của B đã phạm vào tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại Khoản 1 Điều 201 BLHS, như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát huyện N là có căn cứ.
[4] Xét tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2020 bị Toà án huyện N xử phạt 04 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “đánh bạc”. Ngày 22/12/2023, bị UBND huyện N xử phạt vi phạm hành chính số tiền 15.000.000đồng về hành vi “không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền không cầm cố tài sản hoặc cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá quá tỷ lệ lãi suất theo BLDS”. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối
cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS;
[5] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tại địa phương. Do đó, Viện kiểm sát truy tố Đặng Thị B về tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Khoản 1 Điều 201 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm để răn đe, giáo dục. Đồng thời cần áp dụng hình phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng đối với bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
[6] Trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 123, Điều 131 và Điều 468 Bộ luật dân sự:
Đối với số tiền gốc 40.500.000 đồng, Đặng Thị B dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội cho bốn người vay là T1, C, Q, L2: Bé đã thu được gốc 21.155.000đ và tiêu xài hết; Vì vậy cần buộc B phải giao nộp lại để sung công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền gốc 19.345.000 đồng mà bốn người vay chưa trả cho B (trong đó: Thái: 3.500.000đ; Chi: 7.500.000đ; Q: 4.807.000 đồng; Lệ 3.538.000đ), đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên HĐXX buộc những người vay này phải nộp để sung công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền lãi 4.680.769 đ, B đã thu từ bốn người vay là T1, C, Q, L2 (trong đó tiền lãi theo BLDS: 201.944₫, tiền lãi không hợp pháp: 4.478.825đ). Thì B đã tiêu xài 2.880.769₫, còn 1.800.000₫ thì bị công an thu giữ.
Quá trình điều tra, anh Trần Quang T1, chị Hồ Thị Hồng C, anh Huỳnh Văn Q, bà Huỳnh Thị L2 -là 04 người vay tiền của Đặng Thị B không yêu cầu B trả lại số tiền đã thu lợi bất chính, nên HĐXX không xét.
[7] Xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động Bé sử dụng làm phương tiện phạm tội và số tiền 1.800.000đ Bé thu lãi bất chính, nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[8] Vấn đề khác: Ngoài việc cho bốn người vay nêu trên, Đặng Thị B còn cho một số người khác như Nguyễn Thị Thanh T2, Huỳnh Thị H3, Nguyễn Thị H2, Lê Thị L3, Huỳnh Thị P, N, N1 vay tiền có thu lãi, trước ngày B bị UBND huyện N xử phạt vi phạm hành chính. Do không xác định số tiền B thu lợi bất chính, nên không xử lý Bé về những lần này.
Đặng Văn H6 là người biết B cho vay nhưng không biết B cho ai vay với lãi suất bao nhiêu và không tham gia giúp sức cho B trong việc cho vay thu lãi. Mặt khác, Bé phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên hành vi của H6 không cấu thành tội phạm, nên không xử lý hình sự.
[9] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 201; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm c Khoản 1, Đ1 e Khoản 2 Điều 32; Điều 36 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);
- Tuyên bố:Bị cáo Đặng Thị B phạm tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị B 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Đặng Thị B cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi bị cáo đang tạm trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Đặng Thị B có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Phạt bổ sung: Bị cáo Đặng Thị B phải nộp số tiền 10.000.000đồng (mười triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
- Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tuyên:
- +Buộc bị cáo Đặng Thị B phải nộp số tiền dùng vào việc phạm tội thu được từ bốn người vay (Trần Quang T1, Hồ Thị Hồng C, Huỳnh Văn Q, Huỳnh Thị L2) là 21.155.000đồng (hai mươi mốt triệu, một trăm năm mươi lăm ngàn đồng) và phải nộp số tiền thu lãi không hợp pháp là 2.880.000đồng (hai triệu, tám trăm tám mươi ngàn đồng). Tổng cộng là 24.035.000đồng (hai mươi bốn triệu, không trăm ba mươi lăm ngàn đồng) để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- +Buộc anh Trần Quang T1 phải nộp số tiền 3.500.000đồng (ba triệu, năm trăm ngàn đồng) vào ngân sách Nhà nước.
- +Buộc chị Hồ Thị Hồng C phải nộp số tiền 7.500.000đồng (bảy triệu, năm trăm ngàn đồng) vào ngân sách Nhà nước.
- +Buộc anh Huỳnh Văn Q phải nộp số tiền 4.807.000 đồng (bốn triệu, tám trăm lẻ bảy ngàn đồng) vào ngân sách Nhà nước.
- +Buộc chị Huỳnh Thị L2 phải nộp số tiền 3.538.000 đồng (ba triệu, năm trăm ba mươi tám ngàn đồng) vào ngân sách Nhà nước.
- +Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền Đặng Thị B thu lãi không hợp pháp là 1.800.000đồng (một triệu tám trăm ngàn đồng) đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1047598.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 26/7/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- +Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu OPPO A57, màu xanh dương của Đặng Thị B đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước (đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận ngày 26/7/2024).
- Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Đặng Thị B phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/8/2024). Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan-vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị B. về tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 BLHS.
