TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HS-ST
Ngày 24 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Hoa Hường và ông Phạm Phước Cường.
Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Triệu Văn B (Xệ), sinh ngày 30-4-1989, tại C, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ F, khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: bán nhang dạo; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo phật giáo H2; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Triệu Văn G và bà Trần Thị T; tiền sự: không; tiền án: ngày 04-3-2019, Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc phẩm kết án 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 22-01-2020, chấp hành xong; ngày 19-11-2020, Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang kết án 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (Bản án xác định tái phạm), đến ngày 10-02-2023, chấp hành xong; bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (theo Bản án số 01/2024 ngảy 03/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện hâu P kết án 05 năm tù) (có mặt).
Bị hại: Ông Nguyễn Văn E, sinh năm 1992; nơi cư trú: tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Hẻm D, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Huỳnh Châu T1, sinh năm 1977; nơi cư trú: số I hẻm L, tổ D, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Bà Mai Băng T2, sinh năm 1968; nơi cư trú: số C B, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
Người làm chứng: Trần Văn T3, sinh năm 1991 (vắng mặt); Hoàng Nhựt T4, sinh năm 1985 (vắng mặt); Hà Trọng T5, sinh năm 1985 (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 11-9-2023, Triệu Văn B đang xem Nguyễn Văn E và Trần Văn T3 (bạn của B) chơi bida ở tiệm H3, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang thì được Em giao chìa khoá xe mô tô biển số 67E1-368.31 của Em cho B nhờ đi mua 03 ổ bánh mì về ăn chung. Biết đồng ý, điều khiển xe chạy đi thì nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của Em nên sau khi mua bánh mì về Biết không để xe lại vị trí cũ mà điều khiển xe đến bên hông chợ V1, cách tiệm H Nguyễn khoảng 50m, đậu xe khuất tầm nhìn của Em rồi đi vào tiệm Hà N gặp Em nói dối trả xe và giao chìa khoá xe cho E để Em tin là thật. Xong, Biết trở lại chỗ đậu xe của Em, câu điện trực tiếp, điều khiển xe chạy về nhà của Biết thuộc tổ F, khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; trên đường về, Biết bẻ bỏ một số phụ tùng trên xe và gắn biển số 54S4-0327 vào xe của Em. Đến khoảng 03 giờ ngày 12-9-2023, B điều khiển xe mô tô của Em đến khu vực công trình đang xây dựng gần trụ sở Công an xã B, huyện C lén lấy 01 xe đẩy xi măng đặt lên xe thì bị phát hiện, B bỏ lại xe tẩu thoát, mọi người giao nộp xe cho Cơ quan Công an. Em phát hiện bị B chiếm đoạt xe nên đến Công an phường N trình báo; mời làm việc, B thừa nhận hành vi.
Tang vật thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, kèm biển số 67E1-368.31; 01 biển số 54S4-0327. Sau khi xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Văn E 01 xe mô tô biển số 67E1-368.31, kèm biển số.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại kết luận định giá tài sản số 742/KL-ĐG ngày 01-11-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, tỉnh An Giang, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn - trắng - đen bạc, biển số 67E1-368.31, giá trị 11.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn E đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Triệu Văn B khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Trần Văn B1, Trần Văn V, S, Trương Thanh H1 Tại Cáo trạng số: 22/CT-VKSCĐ-HS ngày 11-3-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Triệu Văn B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Triệu Văn B vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Xác định nảy sinh ý định lấy trộm xe của Em để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản khác nên đã nói dối Em làm cho Em tin là xe để phía trước.
Bị hại khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Tại phiên tòa, xác định đã nhận lại chiếc xe, không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để sớm về với gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Triệu Văn B từ 03 năm đến 04 năm tù; Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt với Bản án số 01/2024 ngày 03/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 biển số 54S4-0327.
Bị cáo Triệu Văn B, bị hại không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về nuôi mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 17 giờ ngày 11-9-2023 tại quán B2 tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, sau khi được bị hại Em giao chìa khoá xe mô tô biển số 67E1-368.31 nhờ đi mua đồ ăn, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối là nói với bị hại “xe đậu ở phía trước” để chiếm đoạt xe mô tô biển số 67E1-368.31 của Nguyễn Văn E, trị giá 11.000.000 đồng. Ngày 19-11-2020, Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo B 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (thuộc trường hợp “tái phạm”), ngày 10-02-2023, chấp hành xong, chưa được xoá án tích, nay bị cáo tiếp tục chiếm đoạt xe mô tô của Nguyễn Văn E, trị giá 11.000.000 đồng. Do đó, hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Triệu Văn B đã phạm tội “Lam dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”), tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm; bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo Triệu Văn B là người nghiện ma tuý, có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện; có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, có nhân thẩn xấu, điều này thể hiện, bị cáo là người coi thường pháp luật, khó cải tạo, sửa chữa để trở thành công dân có ích cho xã hội. Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, mục đích là chiếm đoạt được tài sản. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo Triệu Văn B phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
Ngày 03/01/2024, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 01/2024/HS-ST, bản án đã có hiệu lực pháp luật, do đó, cần thiết tổng hợp hình phạt theo Điều 56 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn E đã nhận lại tài sản chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với biển số 54S4-0327 là vật có giá trị chứng minh tội phạm, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
[9] Về các vấn đề khác: Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Triệu Văn B tại công trình thuộc xã B, huyện C, tỉnh An Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C đã có văn bản gửi đến Công an xã B để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Triệu Văn B (Xệ) phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn B 03 (ba) năm tù.
2. Căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tổng hợp với hình phạt 05 (năm) năm tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 03/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 05/10/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số xe 54S4-0327 (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Triệu Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Triệu Văn Biết - LDTNCĐTS
