Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH HÀ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

---

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày: 23/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nhân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Kim Hồng và ông Lê Xuân Tình

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký TAND huyện Thạch Hà;

- Đại diện VKSND huyện Thạch Hà tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn C - Kiểm sát viên.

Vào lúc 14 giờ, ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 31/8/1996 tại: xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nơi ĐKHKTT và cư trú: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Nguyễn Văn T1; Sinh năm: 1970; Con bà: Nguyễn Thị Ngọc B; Sinh năm: 1972; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Phạm Thị Mỹ H; Sinh năm: 1994; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: 02 người con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023; Bố, mẹ, vợ, con bị cáo hiện đang trú cùng tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên từ ngày 18/3/2024 cho đến nay.

* Bị hại: Anh Trần Duy A; sinh năm 1976; Địa chỉ: xã E, huyện M, tỉnh Đăk Lăk. Do anh Trần Tiến T2; Sinh năm 1992; Địa chỉ cư trú: thôn C, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên làm đại diện. Theo văn bản uỷ quyền ngày 02/02/2024. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Minh D; sinh năm 1996; Địa chỉ cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. (Có mặt)

10

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 21/01/2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 78H-003.09 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS: 94R-000.79 đi từ cửa khẩu H1, tỉnh Lạng Sơn về thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 13 giờ 25 phút, ngày 22/01/2024, xe ô tô đầu kéo BKS: 78H-003.09 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS: 94R-000.79 di chuyển đến vòng xuyến T, huyện T, Nguyễn Văn T điều khiển xe rẽ vào đường Q đoạn tránh thành phố H để tiếp tục đi vào TP .. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo di chuyển trên làn đường dành cho xe cơ giới phía bên phải đường theo hướng vòng xuyến T đi huyện C với tốc độ khoảng 55km/h (theo lời khai của T) đến khu vực ngã tư cây xăng dầu T (Km 01+820 đường Q đoạn tránh TP . thuộc địa phận tổ dân phố A, thị trấn T, T, Hà Tĩnh). Tại mép đường bên phải theo chiều di chuyển của xe ô tô do Nguyễn Văn T điều khiển có cắm 01 biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (W.207a), 01 biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau có tín hiệu đèn (W209) và 01 biển báo chỉ dẫn người đi bộ sang ngang (I.423b) và 01 cột đèn tín hiệu hoạt động bình thường. Lúc này, trời đang có mưa, Nguyễn Văn T do không để ý nên không rõ hệ thống biển báo tại khu vực này nhưng đã đi qua khu vực này nhiều lần nên T biết phía trước chiều mình di chuyển có ngã tư giao nhau và có tín hiệu đèn. Khi xe ôtô di chuyển đến khu vực ngã tư, Nguyễn Văn T quan sát về phía trước thì thấy đèn tín hiệu trên làn đường xe ô tô đầu kéo do T điều khiển đang di chuyển báo màu xanh nên T tiếp tục giữ nguyên tốc độ để đi vào khu vực ngã tư. Khi Nguyễn Văn T vừa điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 78H-003.09 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS: 94R-000.79 di chuyển qua đèn tín hiệu, vào khu vực ngã tư thì T quan sát thấy cách khoảng 10-15 mét phía trước đầu xe ô tô do mình điều khiển có 01 chiếc xe ô tô con (di chuyển cùng chiều, trên cùng làn đường) đang di chuyển chậm lại, có tín hiệu rẽ trái, xe ô tô con gần như dừng lại để chuyển hướng. Thấy vậy, Nguyễn Văn T đạp phanh xe ô tô đầu kéo BKS: 78H-003.09 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS: 94R-000.79 để tránh va chạm. Lúc này, do trời mưa, đường trơn và trước đó Nguyễn Văn T không giảm tốc độ nên xe ô tô đầu kéo BKS: 78H-003.09 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS: 94R-000.79 trượt về phía trước, chếch sang trái, sang làn đường dành cho phương tiện di chuyển ngược chiều. Cùng lúc này, anh Trần Tiến T2 (Sinh năm 1992, trú tại thôn C, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên) điều khiển xe ô tô tải BKS: 47C-318.74 cũng di chuyển đến khu vực ngã tư (ngược chiều di chuyển với xe ô tô do T điều khiển). Dẫn đến xe ô tô đầu kéo BKS: 78H-003.09 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS: 94R-000.79 do Nguyễn Văn T điều khiển đã trượt sang phần đường ngược chiều và húc vào xe ô tô tải BKS: 47C-318.74 do anh T2 điều khiển làm cả hai xe ô tô bị hư hỏng.

Kết quả điều tra xác định được, Nguyễn Văn TTrần Tiến T2 đều có Giấy phép lái, đủ điều kiện điều khiển phương tiện theo quy định và kết quả kiểm tra nồng độ cồn, xét nghiệm nước tiểu cho thấy bị cáo T và anh T2 điều khiển xe ô tô trong hơi thở không có nồng độ cồn hay sử dụng chất kích thích gì khác.

* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường do CQCSĐT Công an huyện T lập hồi 14g50 ngày 22/01/2024 phản ánh: Hiện trường vụ tai nạn giao thông được ghi nhận tại Km 1+820 đường Q đoạn tránh TP . là đoạn đường giao nhau giữa đường Q đoạn tránh TP . với đường L thuộc địa phận Tổ dân phố A, thị trấn T, T, Hà Tĩnh. Đoạn đường được chia thành 02 phần đường bởi vạch sơn nét liền màu vàng và vạch sơn đứt quãng màu trắng. Mỗi phần đường gồm 01 làn đường dành cho xe cơ giới, mỗi làn rộng 3,5m; 01 làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ, mỗi làn rộng 2m, được phân chia với làn đường dành cho xe cơ giới bằng vạch sơn đứt quãng màu trắng. Đoạn đường được rải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn rộng, thông thoáng. Các dấu vết của vụ tai nạn giao thông nằm trên cả 02 phần đường của đường Q đoạn tránh TP

Ngoài ra, tại hiện trường còn ghi nhận: Trước nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông, tại mép đường bên phải đường Q đoạn tránh TP . hướng vòng xuyến T đi huyện C có cắm 01 biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (W.207a), 01 biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau có tín hiệu đèn (W209) và 01 biển báo chỉ dẫn người đi bộ sang ngang (I.423b) và 01 cột đèn tín hiệu hoạt động bình thường. Tại mép đường bên phải đường Q đoạn tránh TP . hướng huyện C đi vòng xuyến Thạch L có cắm 01 biển cảnh báo nguy hiểm đi chậm (W245b), 01 biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (W.207a) và 01 biển báo chỉ dẫn người đi bộ sang ngang (I.423b) và 01 cột đèn tín hiệu hoạt động bình thường. Lấy cột đèn tín hiệu nằm tại mép đường bên phải đường L hướng xã T đi thị trấn T làm điểm mốc. Lấy mép đường bên phải đường Q đoạn tránh TP . hướng huyện C đi vòng xuyến Thạch L làm mép chuẩn.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

+ Xe ô tô đầu kéo BKS: 78H-003.09: Toàn bộ hệ thống ốp nhựa phía trước đầu xe bị gãy vỡ hoàn toàn, mặt trong có dấu vết trượt xước, mất sơn, đứt vỡ, cong gập, bung rời các chốt định vị, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (217 x 160)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 148cm. Góc bên trái đầu xe có dấu vết móp méo, chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái, kích thước (60 x 57)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 76cm. Bậc lên xuống phía bên trái bị bung rời. Cánh cửa bên trái có dấu vết móp, trượt xước mất sơn, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, kích thước (104 x 62)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 144cm. Kính chắn gió tại cửa bên trái bị gãy vỡ hoàn toàn. Ốp nhựa bên trái đầu xe có dấu vết móp méo, bung định vị, bề mặt trượt xước sơn, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, kích thước (99 x 89)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 180cm. Ốp ngoài chắn bùn bánh xe thứ nhất bên trái có dấu vết đứt gãy nhựa, kích thước (5,5 x 50)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 180cm. Chắn bùn trước bánh xe thứ nhất bên trái bị bung rời, chắn bùn phía sau bánh xe thứ nhất bên trái bị gãy vỡ nhựa, bề mặt trượt xước, mất sơn, kích thước (89 x 20)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 87cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải. Giá đỡ bình đựng nước mát bị cong gập theo chiều hướng từ dưới lên trên, trừ trái sang phải, bề mặt có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu xanh, kích thước (29 x 6)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 144cm. Ốp nhựa bảo vệ ắc quy phía bên trái bị móp lõm, gãy vỡ nhựa, chiều hướng từ trái sang phải, kích thước (43 x 53)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 98cm. B1 hơi phía ngoài bên trái có dấu vết móp lõm từ trái sang phải, trượt xước từ trước ra sau, bám dính chất màu đen, màu cam, kích thước (19 x 20)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 60cm.

+ Sơ mi rơ moóc BKS: 94R-000.79: Khung kim loại bảo vệ thùng dầu bên trái có dấu vết cong gập, biến dạng, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, kích thước (55 x 45)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 73cm.

+ Thùng container: Góc bên trái phía trước có dấu vết mất sơn, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (57 x 31)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 150cm. Mặt bên trái có dấu vết móp lõm trượt xước, mất sơn, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (328 x 159)cm, điểm đầu dấu vết cách đầu thành thùng container 380cm.

Ghi nhận an toàn kỹ thuật của phương tiện: Tại thời điểm khám nghiệm, xe ô tô đầu kéo BKS: 78H-003.09 bị hư hỏng, không kiểm tra được kỹ thuật. Sơ mi rơ moóc BKS: 94R-000.79 và thùng container hoạt động bình thường. Ghi nhận trong buồng lái có 01 camera giám sát tài xế.

* Xe ô tô tải BKS: 47C-318.74: Góc bên trái cản trước có dấu vết trượt xước, gãy nhựa, bề mặt bám dính chất màu xanh (dạng sơn), chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (33 x 55)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 83cm. Góc bên trái cản trước bị bung định vị. Đèn xi nhan bên trái phía trước bị gãy vỡ ốp nhựa. Ốp nhựa, bên trái đầu xe bị bung chốt định vị. Bề mặt có dấu vết trượt xước, gãy nhựa, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (20 x 53)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 157cm. Phần bên trái kính chắn gió phía trước bị nứt vỡ, kích thước (140 x 82)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 220cm. Bậc lên xuống bên trái đầu xe bị bung chốt định vị, gãy vỡ ốp nhựa, bề mặt có nhiều mảnh thủy tinh vỡ vụn, kích thước (40 x 30)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 66cm. Toàn bộ bề mặt cửa bên trái cabin xe bị móp méo, trượt xước, mất sơn, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải. Kính chắn gió cửa xe bên trái bị gãy vỡ hoàn toàn, gương chiếu hậu bên trái bung rời hoàn toàn, kích thước (156 x 102)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 185cm. Ốp sườn trái đầu xe có dấu vết trượt xước, móp méo, mất sơn, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, kích thước (130 x 57)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 204cm. Chắn bùn bánh trước bên trái có dấu vết trượt xước, gãy nhựa, bám dính chất mài xanh (dạng sơn), kích thước (111 x 35)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 128cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau. Góc bên trái phía trước thùng chở hàng phía sau có dấu vết móp méo, đứt kim loại, bề mặt trượt xước mất sơn, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, kích thước (90 x 64)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 162cm. Mặt bên trái thùng hàng phía sau có dấu vết trượt xước, đứt gãy kim loại, móp lõm, bề mặt bám dính chất màu xanh (dạng sơn), chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, kích thước (304 x 92)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 170cm, điểm đầu dấu vết cách thành phía trước của thùng xe 54cm. Bề mặt thành thùng xe bên trái phát hiện nhiều mảnh vụn kính, nhựa, màu trắng, vàng, đen. Khung bảo vệ thùng dầu và thùng dầu phía bên trái bung rời khỏi vị trí ban đầu. Phía trước cản trước, vị trí dưới biển kiểm soát có dấu vết gãy nhựa, bám dính chất màu đỏ, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (20 x 10)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 55cm. Phần bên trái biển kiểm soát phía trước có dấu vết trượt xước, vỡ nhựa, bám dính chất màu trắng, đỏ, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (18 x 19)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 68cm. Góc bên phải cản trước bung rời khỏi vị trí ban đầu. Toàn bộ phần bên phải xe bám dính bùn đất. Mặt ngoài lazăng bánh trước bên trái có dấu vết trượt xước, đứt kim loại, bám dính chất màu vàng dạng rỉ sét, chất màu trắng, màu xanh (dạng sơn). Mặt ngoài lốp xe có dấu vết trượt xước, mất cao su, hướng từ ngoài vào tâm bánh xe, kích thước (18 x 17)cm, cách van xe theo chiều tịnh tiến 67cm.

+ Kỹ thuật an toàn phương tiện: Tại thời điểm khám nghiệm, phương tiện bị hư hỏng nên không kiểm tra được hệ thống kỹ thuật. Ghi nhận trong buồng lái có 01 camera hành trình.

* Kết quả giám định cơ học:

- Tại Bản kết luận giám định số 382/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Xe ô tô tải mang biển kiểm soát 47C-318.74 và xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 78H-003.09 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 94R-000.79 (bên trên có chở 01 thùng container) có va chạm với nhau. Hai phương tiện va chạm ngược chiều nhau.

- Vị trí va chạm giữa hai phương tiện:

+ Phần bên trái phía trước đầu xe ô tô tải mang biển kiểm soát 47C-318.74 va chạm với phần bên trái phía trước đầu xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 78H-003.09.

+ Cửa bên trái xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-318.74 va chạm với cửa bên trái xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 78H-003.09.

+ Bậc lên xuống bên trái xe ô tô tải mang biển kiểm soát 47C-318.74 va chạm với bậc lên xuống bên trái xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 78H-003.09.

+ Mặt bên trái bánh trước bên trái xe ô tô tải mang biển kiểm soát 47C-318.74 va chạm với góc bên trái thanh kim loại cố định cản trước xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 78H-003.09.

+ Khung kim loại bảo vệ thùng dầu xe ô tô tải mang biển kiểm soát 47C-318.74 va chạm với khung kim loại bảo vệ thùng dầu sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 94R-000.79.

- Vị trí va chạm giữa xe ô tô tải mang biển kiểm soát 47C-318.74 và xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 78H-003.09 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 94R-000.79 (bên trên có chở một thùng container màu trắng) nằm trong khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Q đoạn tránh thành phố H với đường L thuộc địa phận tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.

* Kết quả định giá tài sản: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KLÐG ngày 01/3/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: giá trị thiệt hại của xe ô tô tải BKS: 47C-318.74 là 140.000.000 đồng; thiệt hại của xe ô tô đầu kéo, BKS: 78H-003.09 là 97.000.000 đồng; thiệt hại của sơ mi rơ moóc, nhãn hiệu DOOSUNG, BKS: 94R-000.79 (bên trên có chở 01 thùng container màu trắng) là: 5.000.000 đồng.

* Vật chứng, tài liệu thu giữ của vụ án gồm:

  • - 01 xe ô tô đầu kéo, nhãn hiệu FOTON, màu xanh, BKS: 78H-003.09, đã qua sử dụng; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số 78 002218, biển đăng ký 78H-003.09; 01 giấy chứng nhận kiểm định số EB 0127542, biển đăng ký 78H-003.09;
  • - 01 sơ mi rơ moóc nhãn hiệu DOOSUNG, màu cam, BKS: 94R-000.79, đã qua sử dụng (trên chở 01 thùng container). 01 chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 000075, biển đăng ký 94R-000.79; 01 giấy chứng nhận kiểm định số EB 0127543, biển đăng ký 94R-000.79;
  • - 01 giấy phép lái xe số [...], hạng FC, mang tên Nguyễn Văn T.
  • - 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu HINO, màu trắng, BKS: 47C-318.74, đã qua sử dụng; 01 bản sao chứng nhận đăng ký xe ô tô số 47 000680, biển đăng ký 47C-318.74; 01 giấy biên nhận thế chấp số 76 ngày 24/11/2023; 01 giấy chứng nhận kiểm định số DA 4493652, biển đăng ký 51D-677.62;
  • - 01 giấy phép lái xe số [...], hạng C, mang tên Trần Tiến T2;

Quá trình điều tra, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại xe ô tô tải BKS: 47C-318.74 cùng giấy tờ liên quan và giấy phép lái xe hạng C, mang tên Trần Tiến T2 cho đại diện hợp pháp của chủ sở hữu tài sản là anh Trần Tiến T2. Trả lại xe ô tô đầu kéo BKS:78H-003.09; sơ mi rơ moóc BKS: 94R-000.79 cùng giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Minh D. Đối với giấy phép lái xe hạng FC, mang tên Nguyễn Văn T, CQĐT đã chuyển theo hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xẩy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho chủ xe ô tô tải BKS: 47C-318.74 số tiền 98.600.000 đồng. Bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Với hành vi trên, tại cáo trạng số: 40/CT-VKSTH, ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ty về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 1, Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 đến 30 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời điểm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

+ Về khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung: bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình đang có nghĩa vụ phải nuôi bà ngoại bị tàn tật và hai con còn nhỏ nên đề nghị HĐXX miễn khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung cho bị cáo. Trả lại giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn T cho bị cáo.

+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại hư hỏng xe ô tô đầu kéo BKS: 78H-003.09, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Tai nạn xảy ra ngoài ý muốn, bản thân bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của mình. Do đó, bị cáo mong muốn HĐXX xem xét cho hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì. Vì vậy các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, tại Km 1+820 đường Q đoạn tránh thành phố H, thuộc địa phận tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 78H-003.09 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 94R-000.79 chấp hành không nghiêm các quy định của Luật giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn giao thông, gây hư hỏng xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-318.74, giá trị thiệt hại là 140.000.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn T đã vi phạm khoản 23, Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định về “Các hành vi nghiêm cấm”; vi phạm vào khoản 1, Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định về “Quy tắc chung”; vi phạm khoản 1, Điều 11 Luật giao thông đường bộ quy định về “Chấp hành báo hiệu đường bộ”; khoản 1, khoản 3, khoản 11, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về “Các trường hợp phải giảm tốc độ”. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 260 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào;

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả gây ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[4] Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo điều khiển xe ô tô là một nguồn nguy hiểm cao độ nhưng đã chủ quan, cẩu thả, không chấp hành đầy đủ các quy định của Luật giao thông đường bộ, không giảm tốc độ khi đi vào khu vực ngã tư nơi có biển báo nguy hiểm giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên, trong điều kiện trời mưa, đường trơn dẫn đến gây tai nạn giao thông làm thiệt hại tài sản của người khác trị giá 140 triệu đồng, rất may là hậu quả về người không xảy ra, song cũng cần xử lý bị cáo hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, vụ việc không gây thiệt hại về người, chỉ gây thiệt hại về tài sản; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tích cực bồi thường khắc phục hậu quả; bị cáo có nhân thân tốt, trước đây chưa vi phạm pháp luật lần nào để từ đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy mức hình phạt cải tạo không giam giữ từ 24 đến 30 tháng mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung: bị cáo có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, là lao động chính trong gia đình đang có nghĩa vụ phải nuôi bà ngoại bị tàn tật và hai con còn nhỏ, vợ không có việc làm (Đơn trình bày hoàn cảnh của bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú) nên xét thấy không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung cấm hành nghề đối với bị cáo là phù hợp. Trả lại giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn T cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong về bồi thường dân sự, nay không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[6] Về xử lý vật chứng, giấy tờ: Các quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án là có căn cứ, đảm bảo đúng quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận. Đối với Giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn T cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 27(hai mươi bảy) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời điểm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng, giấy tờ: Trả lại giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn T cho bị cáo.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Thạch Hà;
  • - Công an huyện Thạch Hà;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Thạch Hà;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND xã An Cư, huyện Tuy An, Phú Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ; VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Nhân

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Ty - 260
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger