|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày: 21-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Nguyễn Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hà Công Thắng.
- Bà Trần Thanh Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thượng Thống - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cứ Thị D (tên gọi khác không), sinh ngày 20/9/1977 tại huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn K, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái; dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn lớp 0/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông Cứ A T (Đã chết) và bà Vàng Thị D1, sinh năm 1932; Bị cáo có chồng là Mùa A G và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 12/6/2024, tạm giam từ ngày 15/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y. “Có mặt”.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Nguyễn Thị H, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Đèo Đức V, sinh năm 1982, trú tại: Tổ D, Thị trấn nông trường L, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn D2, sinh năm 1984, trú tại: Tổ dân phố S, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
2
- Người phiên dịch:
Anh Giàng Hà C, sinh năm 1980, trú tại: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 15 phút ngày 12/6/2024, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện V phát hiện tại nhà của Cứ Thị D thuộc thôn K, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái tụ tập đông người, có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy. Kiểm tra người thứ nhất khai tên Cứ Thị D là chủ nhà, phát hiện và thu giữ trong túi vải màu đen Dứa đang đeo có 01 gói nilon màu xanh có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là H1), 01 điện thoại NOKIA và 2.155.000 đồng. Kiểm tra người thứ hai khai tên Đèo Đức V, phát hiện và thu giữ của V 01 mảnh giấy bạc đã bị cháy dở và 01 bật lửa gas. Kiểm tra người thứ ba khai tên Nguyễn Văn D2, phát hiện và thu giữ của D2 01 vỏ ống nước cất có chữ NOVOCAIN 3% và 01 xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng. Khai thác tại chỗ, Cứ Thị D khai nhận chất bột nén màu trắng thu giữ của D là heroine, D vừa bán heroine cho Đèo Đ và Nguyễn Văn D2. Thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Cứ Thị D, Cơ quan Công an phát hiện và thu giữ dưới chân cột trong gian bếp nhà D 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen (nghi là thuốc phiện). Cơ quan công an đã tạm giữ Cứ T để điều tra về hành vi mua, bán trái phép chất ma túy.
Tại cơ quan điều tra, Cứ Thị D khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ trưa ngày 11/6/2024, D vào quán phở ở khu vực Bản G, xã S thì gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, D nói chuyện thì được biết người này có Heroine bán, D đã đưa cho người đàn ông này 300.000 đồng để mua heroine. Sau khi mua được heroine D mang về nhà để dùng và bán lấy tiền. Khoảng 15 giờ chiều ngày 11/6/2024, Đèo Đ đến nhà hỏi mua heroine thì được D bán cho 100.000 đồng, sau khi mua được heroine, V mang đi đâu sử dụng thì D không biết. Khoảng 10 giờ ngày 12/6/2024, Đèo Đ tiếp tục đến nhà Cứ Thị D hỏi mua H1 để sử dụng, D đồng ý, V đưa cho D 100.000 đồng, D cầm tiền rồi lấy từ trong túi vải màu đen đang đeo trên người ra 01 gói Heroine, được gói bằng nilon màu xanh và cấu một ít đưa cho V, sau đó D đi ra vườn hái dưa, một lúc sau, D từ ngoài vườn về thì Nguyễn Văn D2 đến hỏi mua H1 và đưa cho D 145.000 đồng, D nhận tiền và tiếp tục lấy gói Heroine trong túi vải đeo trên người ra cấu một ít đưa cho D2, sau đó đi ra ngoài quét sân. Sau này D được biết V và D2 đã sử dụng hết số ma túy mua được tại nhà của D. Khi V và D2 sử dụng ma túy tại nhà của D thì V và D2 không hỏi và D cũng không biết việc Đèo Đức V và Nguyễn Văn D2 đã sử dụng ma túy tại nhà của mình. Đối với số thuốc phiện được thu giữ khi khám xét, D khai đã mua từ lâu, mục đích mua để có ai hỏi thì D bán. Trong số tiền 2.155.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Cứ Thị D, có 345.000 đồng tiền thu được từ việc bán trái phép Heroine cho Đèo Đ và Nguyễn Văn D2, số tiền 1.810.000 đồng là tiền của con gái D là Mùa Thị D3 cho để D mua thức ăn.
3
Đèo Đức V và Nguyễn Văn D2 đều khai nhận: Việc mua ma túy của Cứ Thị D diễn ra đúng như Cứ Thị D đã khai. Khi V và D2 sử dụng ma túy tại nhà của D thì V và D2 đều tự ý sử dụng mà không hỏi ý kiến của D, D không nhìn thấy và không biết V và D2 sử dụng ma túy tại nhà của D.
Tại Bản kết luận giám định số: 361/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:
“1. Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Cứ Thị D có khối lượng 0,76 gam (Không phẩy bẩy mươi sáu gam ). 0,16 gam trích từ 0,76 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
2. Chất nhựa dẻo màu nâu thu giữ khi khám xét chỗ ở của Cứ Thị D có khối lượng 0,66 gam (Không phẩy sáu mươi sáu gam), là ma túy; là Thuốc phiện.
Thuốc phiện và các chế phẩm từ thuốc phiện nằm trong Danh mục ID, STT: 3, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Heroine (H2) có tên khoa học là D4, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma túy và tiền chất” (BL 26.27).
Tại Bản kết luận giám định số: 365/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận: “Tổng số tiền 2.155.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Cứ Thị D đều là tiền thật”.
- Cáo trạng số: 40/CT-VKS-VC ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, truy tố Cứ Thị D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận diễn biến việc mua ma túy và bán ma túy cho V và D2 như đã khai tại cơ quan điều tra.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như trong bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Tuyên bố bị cáo Cứ Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Cứ Thị D từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành niêm phong số Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 03 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong + mảnh ninol gói; 01 túi vải màu đen; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy dở; 01 bật lửa gas; 01 vỏ ống NOVOCAIN; 01 xi lanh loại 3ml/cc;
- Tịch thu số tiền 345.000 đồng do phạm tội mà có của Cứ Thị D.
- Tịch thu một phần tài sản của Cứ Thị D là số tiền 1.810.000 đồng và 01 điện thoại NOKIA.
- Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là người thuộc hộ nghèo nên đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
4
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người đúng tội. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được học hành đầy đủ, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, khối lượng ma túy ít. Đề nghị xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù. Các vấn đề khác, Người bào chữa nhất trí với đề nghị của vị Đại diện Viện Kiểm sát.
Bị cáo không bổ sung gì thêm vào nội dung lời bào chữa. Bị cáo nói lời sau cùng, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong việc điều tra, truy tố bị cáo đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt và việc áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án và vật chứng đã được thu giữ, nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy, để có tiền và có ma túy sử dụng nên ngày 11/6/2024, Cứ Thị D đã đi mua ma túy của 1 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu V, xã S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi mua được ma túy, D đã mang về sử dụng 01 ít, số còn lại D đã bán cho Đèo Đ 02 lần vào các ngày 11 và 12/6/2024 và 01 lần bán cho Nguyễn Văn D2 vào ngày 12/6/2024. Ngoài ra Cứ Thị D còn mua 0,66 gam thuốc phiện để bán nhưng chưa bán được cho ai.
Cứ Thị D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo 02 lần mua ma túy sau đó 03 lần bán ma túy cho Đèo Đ và Nguyễn Văn D2, hành vi đó đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được qui định tại Điều 251 BLHS.
Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng bởi tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, hủy hoại nhân cách con người, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, là nguyên nhân và điều kiện cho các tội phạm khác phát sinh, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý của Nhà nước. Bị cáo có 2 lần mua ma túy, 02 lần bán ma túy cho Đèo Đức V vào ngày 11 và 12/6/2024 và 01 lần bán ma túy cho Nguyễn Văn D2 vào ngày 12/6/2024 là đã phạm vào tình tiết tăng nặng định khung
5
“phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS. Với hành vi phạm tội như vậy xét thấy cần phải xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người lương thiện đồng thời đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy trong giai đoạn hiện nay.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự khai ra lần phạm tội trước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” và “Tự thú” quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS được áp dụng cho bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người nghiện chất ma túy nên cần coi là người có nhân thân không tốt.
Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nêu trên, HĐXX thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt tù với mức phạt nghiêm khắc mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe những người khác có ý thức tôn trọng pháp luật và góp phần tích cực trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm ma túy.
Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đối với 0,6 gam heroine còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì là vật cấm lưu hành và 03 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong + mảnh ninol gói; 01 túi vải màu đen; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy dở; 01 bật lửa ga; 01 vỏ ống NOVOCAIN; 01 xi lanh loại 3ml/cc là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 345.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Đèo Đức V và Nguyễn Văn D2 bị thu giữ cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 1.810.000 đồng và 01 điện thoại di động NOKIA mặc dù số tiền và chiếc điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng theo khoản 5 Điều 251 BLHS quy định người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do vậy HĐXX thấy rằng cần tịch thu số tiền và chiếc điện thoại này của bị cáo.
[3] Các vấn đề khác trong vụ án:
Trong vụ án này bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu vực thôn Bản Giông, xã S, huyện V. Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh làm rõ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi sử dụng chất ma túy của Đèo Đức V và Nguyễn Văn D2 ngày 12/6/2024 tại nhà của Cứ Thị D. Đèo Đức V và Nguyễn Văn D2 tự ý sử dụng chất ma túy mà không hỏi ý kiến của D và D cũng không biết V và D2 sử dụng ma túy tại nơi ở của mình nên Cứ Thị D không phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với Đèo Đức V và Nguyễn Văn D2 là những người nghiện ma túy có hành vi mua ma túy của Cứ Thị D để sử dụng và đã sử dụng hết nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm của Đèo Đ và Nguyễn Văn D2 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đèo Đ và Nguyễn Văn D2 là có căn cứ, đúng pháp luật.
6
[5] Về án phí: Kiểm sát viên và người bào chữa đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo với lý do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là người thuộc hộ nghèo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án là phù hợp cần được chấp nhận.
Bị cáo được kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cứ Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cứ Thị D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 12/6/2024.
Tịch thu một phần tài sản là số tiền 1.810.000 đồng (Một triệu tám trăm mười nghìn đồng) và 01 điện thoại NOKIA của bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu 345.000 đồng của bị cáo để sung vào ngân sách nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy: 0,6 gam heroine còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì là vật cấm lưu hành và 03 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong + mảnh ninol gói; 01 túi vải màu đen; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy dở; 01 bật lửa gas; 01 vỏ ống NOVOCAIN ; 01 xi lanh loại 3ml/cc; 02 vỏ phong bì sau khi mở niêm phong lấy tiền tịch thu và heroine tiêu hủy.
Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Yên Bái và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
7
- - Công an huyện Văn Chấn (2b);
- - Bị cáo; NBC;
- - Thi hành án hình sự;
- - Thi hành án dân sự;
- - Sở Tư pháp;
- - Chi cục thuế huyện Văn Chấn;
- - Chi cục hải quan tỉnh Yên Bái;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Lương Nguyễn Thắng
8
9
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cứ Thị D - mua bán trái phép chất ma túy
