Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRIỆU PHONG

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 21-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Bảo;

Ông Mai Văn Ánh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Huyền - Thư ký TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn V - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần L, sinh ngày: 08/02/2007, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V1, sinh năm 1966 và bà Trần Thị T, sinh năm 1972, cùng hiện trú tại: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/8/2024 cho đến nay; có mặt.

2. Trần T1, sinh ngày: 20/6/2006, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không xác định và con bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1964, hiện trú tại: thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; gia đình có 04 anh, chị em, bị cáo là con thứ tư; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/8/2024 cho đến nay; có mặt.

3. Nguyễn Văn Nhật Q, sinh ngày: 12/01/2007, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phúc C, sinh năm 1970 và con bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1968, hiện trú tại: thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; gia đình có 04 anh, chị em, bị cáo là con thứ tư; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/8/2024 cho đến nay; có mặt.

4. Nguyễn Thanh H, sinh ngày: 09/4/2005, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1972 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977, hiện trú tại: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; gia đình có 06 anh, chị em, bị cáo là con thứ tư; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/8/2024 cho đến nay; có mặt.

Người đại diện theo pháp luật đồng thời là người bào chữa cho bị cáo Trần L: ông Trần Văn V1, sinh năm 1966, nơi cư trú: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

Người đại diện theo pháp luật đồng thời là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Nhật Q: ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

Người bị hại: Ông Nguyễn Quang N1, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị Thu L1, sinh năm 2003; nơi cư trú: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
  • + Ông Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977; nơi cư trú: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
  • - Trường THPT V2 (Trường nơi bị cáo học tập); địa chỉ xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Duy P - Phó Hiệu trưởng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng giữa tháng 5/2024, do không có tiền tiêu xài nên Trần L rủ T1 đi trộm cắp tài sản thì T1 đồng ý. Sau đó, L và T1 thống nhất, L sẽ đi tìm tài sản ở khu vực thôn F, xã T, còn Tưởng sẽ đi tìm tài sản ở khu vực thôn E, xã T. Sau đó, Q liên lạc qua ứng dụng zalo hỏi L có việc gì để làm không thì L trả lời là cứ liên hệ với T1 rồi biết, nghe vậy Q liên hệ qua ứng dụng zalo cho Trần T1 thì T1 nói “Đi lấy trộm mô tơ ở hồ tôm về bán”, Q đồng ý.

Khoảng 08 giờ ngày 01/6/2024, Q đến nhà gặp T1 và cùng nhau đi bộ về hồ tôm của anh Nguyễn Quang N1, sinh năm 1983, tại thôn E, xã T, huyện T, đến đây thấy hồ tôm không có người trông coi, tại bờ hồ có 01 cầu nối bằng kim loại để nối cánh quạt với mô tơ. Sau khi xem xong, cả hai đi bộ về lại nhà T1, sau đó T1 nhắn tin qua ứng dụng Zalo với L, với nội dung “Tìm ra được chỗ trộm rồi, có đi không?”, L nhắn tin trả lời “Xác định lại vị trí”.

Khoảng 10 giờ ngày 02/6/2024, T1 và L đi về hồ tôm của anh N1 xem lại, thấy thuận lợi nên thống nhất sẽ lấy trộm tài sản ở hồ tôm này. Khoảng 16 giờ, L gọi điện rủ H đi lấy trộm tài sản thì Hòa đồng ý. Đến 19 giờ, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74D1-373.99 đi đến nhà của L và chở L đến nhà của Q sau đó cả ba đến nhà của T1. H, L, Q, T1 đi bộ theo đường mòn về trại nuôi tôm của anh N1. Khi đến trại nuôi tôm, L đến mở cửa sổ ra và trèo vào trong rồi mở cửa hông để cho T1, Q, H đi vào. Lúc này cả nhóm thấy có 03 mô tơ điện (01 cái 15Kw, 02 cái 03Kw) nên cùng nhau bưng ra để ở đường đất đỏ gần đó, rồi quay lại lấy thêm 01 cầu nối ở bờ hồ bưng ra để ở vị trí 03 mô tơ. Q tìm được 01 đòn gánh bằng tre còn Tưởng, H, L vào trại nuôi tôm của anh N1 lấy 02 dây cu roa, cả nhóm dùng dây cu roa và đòn gánh khiêng mô tơ lớn đi theo đường cũ về hướng nhà T1. Khi cách nhà của T1 khoảng 200m thì để mô tơ lớn ở bãi đất trống và bàn với nhau là Q và H về nhà của T1 lấy xe mô tô, còn T1 và L đi bộ về lấy 02 mô tơ nhỏ và cầu nối ở đường đất đỏ. Khi gặp nhau, cả nhóm thống nhất phân công H điều khiển xe mô tô chở L và 02 mô tơ nhỏ, còn T1 và Q bưng cầu nối đi bộ theo đường mòn về hướng nhà T1. Sau khi H chở L đưa hai mô tơ nhỏ cất giấu ở bãi đất trống cách nhà T1 khoảng 100m thì H bỏ xe tại nhà Tưởng rồi cả hai đi bộ quay lại cùng với T1 và Q bưng cầu nối đến vị trí cất giấu cùng với mô tơ lớn. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sợ bị phát hiện nên 04 đối tượng thống nhất đến 23 giờ cùng ngày sẽ về lấy các tài sản đưa đi tìm nơi tiêu thụ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Q đi bộ đến nhà T1 ngồi đợi, khoảng 23 giờ, T1 nhắn tin cho L nói về nhà T1 thì L nhắn tin trả lời là mẹ không cho đi và nói T1 lấy tấm bạt ra đậy mô tơ và cầu nối lại. Sau đó T1 và Q đi bộ ra lấy cây cỏ, đất phủ lên trên rồi về nhà.

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/6/2024, trong lúc T1, Q cùng với T4 đi uống cà phê tại xã T, huyện T thì L gọi điện thoại cho T1, nói T1 về đưa mô tơ và cầu nối đi cất giấu nên cả ba ra về. Khi về đến nhà của T1 thì thấy L, H đã ở đây.

Tưởng lấy xe mô tô biển kiểm soát 74D1 - 202.67 (xe mô tô của vợ chồng ông Nguyễn Thanh T3 và bà Nguyễn Thị N, cùng trú tại thôn F, xã T, huyện T, bố mẹ của H) chở L về vị trí cất giấu tài sản trước đó, còn Q, H, T4 đi bộ theo sau. Đến vị trí cất giấu mô tơ và cầu nối L, T1, Q và H đi bộ xuống còn T4 đứng ở trên đường, trong lúc L, T1, Q, H đang bưng mô tơ lên xe mô tô để chở đi cất giấu thì bị Công an xã T đến lập biên bản vụ việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐG ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị tài sản vụ “Trộm cắp tài sản” ngày 02/6/2024 tại thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị là 3.128.000 đồng (gồm một mô tơ 15 KW và hai mô tơ 03 KW nhãn hiệu Việt Hung; một cầu nối từ mô tơ ra guồng quạt sục khí bằng kim loại).

Cáo trạng số: 38/CT-VKSTP ngày 25 tháng 10 năm 2024 của VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, truy tố các bị cáo Trần L, Trần T1, Nguyễn Văn Nhật Q và Nguyễn Thanh H, về tội: "Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36 Bộ luật hình sự. Riêng các bị cáo Trần L, Trần T1 và Nguyễn Văn N2 Quân áp dụng thêm Điều 91; Điều 100 Bộ luật hình sự, xử phạt:
    • Bị cáo Trần L: 9- 12 tháng cải tạo không giam giữ.
    • Bị cáo Trần T1: 6 - 9 tháng cải tạo không giam giữ.
    • Bị cáo Nguyễn Văn Nhật Q: 6 - 9 tháng cải tạo không giam giữ.
    • Bị cáo Nguyễn Thanh H: 9- 12 tháng cải tạo không giam giữ.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen, số Imei 1: 8650.590.517, số Imei 2: 8650.590.517.45676/78, bên trong máy có gắn sim điện thoại số 0389.371.xxx và sim điện thoại số 0865.313.xxx (của Trần L); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số Imei 1: 355.836.089.243.511, số Imei 2: 355.836.089.243.51, bên trong máy có gắn 01 sim điện thoại số 0987.071.xxx (của Trần T1); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imei 1: 352.840.112.204.733, số Imei 2: 352.840.112.101.236, bên trong máy có gắn 01 sim điện thoại số 0326.756.xxx (của Nguyễn Văn Nhật Q); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone SE màu trắng, số Imei 1: 356.485.103.898.899, số Imei 2: 356.485.103.931.989, bên trong máy có gắn 01 sim điện thoại số 0332.256.xxx (của Nguyễn Thanh H).
    • + Tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai) sợi dây curoa màu đen, hình tròn, có đường kính 45cm; 01 (một) đòn gánh bằng tre có chiều dài 1,9m.

- Về án phí : Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Ngày 02/6/2024, tại thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị, các bị cáo Trần L, Trần T1, Nguyễn Văn Nhật Q và Nguyễn Thanh H đã có hành vi lén lút đột nhập khu vực hồ nuôi tôm của anh Nguyễn Quang N1 trộm cắp 02 mô tơ điện loại 03 KW, 01 mô tơ điện loại 15KW, 01 cầu nối bằng kim loại.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐG ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị tài sản vụ “Trộm cắp tài sản” ngày 02/6/2024 tại thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị là 3.128.000 đồng.

Vì vậy, VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Trần L, Trần T1, Nguyễn Văn Nhật Q và Nguyễn Thanh H về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét vị trí, vai trò, trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo Trần L, Trần T1, Nguyễn Văn Nhật Q, Nguyễn Thanh H cố ý cùng thực hiện tội phạm nhưng không có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Trần L là người khởi xướng, rủ rê và thực hiện hành vi phạm tội; các bị cáo Trần T1, Nguyễn Văn Nhật Q, Nguyễn Thanh H là người thực hành tích cực. Vì vậy, bị cáo Trần L có vai trò, vị trí cao nhất trong vụ án; các bị cáo T1, Q, H có vị trí vai trò như nhau.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

Đối với các bị cáo Trần L, Trần T1 và Nguyễn Văn Nhật Q khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần áp dụng các chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

[5]. Xét tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn. Tuy nhiên, các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; các bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng. Đối với bị cáo Trần L, Trần T1, Nguyễn Văn Nhật Q khi phạm tội dưới 18 tuổi và hiện nay đang là học sinh Trường THPT V2, huyện T. Vì vậy, căn cứ vào Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo với hình phạt là “Cải tạo không giam giữ” cũng đủ giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Quang N1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Các vật chứng gồm: 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen, số Imei 1: 8650.590.517, số Imei 2: 8650.590.517.45676/78, bên trong máy có gắn sim điện thoại số 0389.371.xxx và sim điện thoại số 0865.313.xxx (của Trần L); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số Imei 1: 355.836.089.243.511, số Imei 2: 355.836.089.243.51, bên trong máy có gắn 01 sim điện thoại số 0987.071.xxx (của Trần T1); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imei 1: 352.840.112.204.733, số Imei 2: 352.840.112.101.236, bên trong máy có gắn 01 sim điện thoại số 0326.756.xxx (của Nguyễn Văn Nhật Q; 01 điện thoại di động hiệu Iphone SE màu trắng, số Imei 1: 356.485.103.898.899, số Imei 2: 356.485.103.931.989, bên trong máy có gắn 01 sim điện thoại số 0332.256.xxx (của Nguyễn Thanh H) là công cụ, phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - Các vật chứng gồm: Tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai) sợi dây curoa màu đen, hình tròn, có đường kính 45 cm; 01 (một) đòn gánh bằng tre có chiều dài 1,9 m không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ.

[8] Về việc khấu trừ thu nhập: Các bị cáo Trần L, Trần T1, Nguyễn Văn Nhật Q khi phạm tội dưới 18 tuổi nên không khấu trừ thu nhập; bị cáo Nguyễn Thanh H không có công việc ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập.

[9]. Đối với Đặng Văn T4: Vào ngày 03/6/2024, T4 đi theo T, Trần T1, Nguyễn Văn Nhật Q, Nguyễn Thanh H chơi, quá trình đi theo, T4 không biết việc L, T1, Q và H đi cất giấu tài sản đã trộm cắp trước đó, khi đến nơi T4 mới biết đó là các tài sản trộm cắp, cùng lúc này cả nhóm bị Công an xã T phát hiện. Vì vậy, không có căn xử lý T4 về tội “Trộm cắp tài sản”.

[10]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần L, Trần T1, Nguyễn Văn Nhật Q và Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36 Bộ luật hình sự. Riêng các bị cáo Trần L, Trần T1 và Nguyễn Văn N2 Quân áp dụng thêm Điều 91 và Điều 100 Bộ luật hình sự, xử :
      • Bị cáo Trần L: 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
      • Bị cáo Trần T1: 6 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
      • Bị cáo Nguyễn Văn Nhật Q: 6 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
      • Bị cáo Nguyễn Thanh H: 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
    • Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Giao các bị cáo Trần L, Trần T1, Nguyễn Văn Nhật Q, Nguyễn Thanh H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen, số Imei 1: 8650.590.517, số Imei 2: 8650.590.517.45676/78, bên trong máy có gắn sim điện thoại số 0389.371.xxx và sim điện thoại số 0865.313.xxx (của Trần L); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số Imei 1: 355.836.089.243.511, số Imei 2: 355.836.089.243.51, bên trong máy có gắn 01 sim điện thoại số 0987.071.xxx (của Trần T1); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imei 1: 352.840.112.204.733, số Imei 2: 352.840.112.101.236, bên trong máy có gắn 01 sim điện thoại số 0326.756.xxx (của Nguyễn Văn Nhật Q); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone SE màu trắng, số Imei 1: 356.485.103.898.899, số Imei 2: 356.485.103.931.989, bên trong máy có gắn 01 sim điện thoại số 0332.256.xxx (của Nguyễn Thanh H).
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai) sợi dây curoa màu đen, hình tròn, có đường kính 45cm; 01 (một) đòn gánh bằng tre có chiều dài 1,9m.
    • (Vật chứng có tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong).
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: mỗi bị cáo Trần L, Trần T1, Nguyễn Văn Nhật Q, Nguyễn Thanh H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Tr.Phong;
  • - Công an huyện Tr.Phong;
  • - Chi cục THADS huyện Tr.Phong;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Lộc cùng đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger