|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày: 14-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Út Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Xuân Nguyên
Ông Lý Văn Trường
Thư ký phiên tòa: Bà La Quỳnh Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Thiêm Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Triệu Phú H
(Tên gọi khác: không có), sinh ngày 02 tháng 4 năm 1970 tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Triệu Nhân L và bà Triệu Thị V (Đều đã chết); Bị cáo có vợ là Bàn Thị C, sinh năm 1979 và 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01. Ngày 03/5/2024 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 3.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Sầm Đức T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Triệu Văn H1, sinh năm 2002; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 26/6/2024, tổ công tác Công an xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đang tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại thôn K, xã T, huyện N thì phát hiện một đối tượng nam giới đang điều khiển xe mô tô BKS 97B1-186.47 theo hướng từ xã Đ đi thôn K, xã T có biển hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Qua kiểm tra, đối tượng khai nhận là Triệu Phú H, H tự nguyện giao nộp 01 gói được gói bằng lớp túi nilon màu trắng bên trong có 03 gói nhỏ mỗi gói được gói bằng một mảnh giấy mặt bên ngoài màu vàng, mặt bên trong màu trắng, các gói đều chứa chất bột màu trắng H đang cầm trong lòng bàn tay trái (Niêm phong trong phong bì ký hiệu A1). Tiến hành kiểm tra đối tượng phát hiện và tạm giữ những đồ vật sau: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 điện thoại cũ đã qua sử dụng tại túi áo trước ngực bên phải đang mặc trên người của H (Niêm phong trong phong bì ký hiệu A2); 01 chiếc xi lanh đã qua sử dụng tại túi quần bên phải đang mặc trên người của H (Niêm phong trong phong bì ký hiệu A3). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ tang vật. Kết quả khám xét chỗ ở và các công trình phụ cận có liên quan của H tại thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì.
Hồi 14 giờ 05 phút ngày 26/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N tiến hành mở, đóng niêm phong và cân xác định khối lượng số chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu Al thu được của H có tổng khối lượng 0,20g (Không phẩy hai không gam) và được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1 để gửi đi giám định. Tại Kết luận giám định số 234/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 có khối lượng là 0,20g (Không phẩy hai không gam),”.
Quá trình điều tra Triệu Phú H khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút sáng ngày 26/6/2024, H một mình điều khiển xe mô tô từ nhà đến thôn B, xã Đ, H sử dụng điện thoại có số thuê bao 0349510356 để liên lạc gọi vào số thuê bao 0369011243 cho người đàn ông tên H2 để hỏi và mua ma túy, nhưng không mua được, sau đó H gặp một người đàn ông (Không biết tên, tuổi, địa chỉ) ở đoạn đường bê tông thuộc khu vực thôn B, xã Đ, H hỏi mua ma túy và được người đàn ông đó đồng ý. H đưa cho người đàn ông đó số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), người đó đưa cho H 01 (một) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, H quay xe lại đến khu vực vắng người, dừng xe rồi đi vào bụi rậm cạnh đường mở gói ma túy vừa mua trích một phần nhỏ ra để sử dụng số còn lại H chia ra thành 03 gói nhỏ, mỗi gói được gói bằng giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng sau đó gói lại trong túi nilon màu trắng. Sau khi sử dụng ma túy xong H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi xe máy vào bãi vàng Manu thuộc thôn K, xã T thì bị lực lượng Công an xã T phát hiện, kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình kiểm tra điện thoại của Triệu Phú H ngày 26/6/2024 có phát sinh 02 cuộc gọi đi có thời lượng từ số thuê bao 0349510356 của H đến số thuê bao 0369011243. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại xã Đ có một người họ tên Lý Quốc H2, sinh năm 1984 đăng ký thường trú tại thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đang tiến hành ghi lời khai của H2 để làm rõ những nội dung có liên quan vụ án, bản thân H2 khẳng định có sử dụng số thuê bao 0369011243 và có biết H trước đó, nhưng H2 khai nhận ngày 26/6/2024 không được trao đổi và liên hệ mua bán ma túy đối với H. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa H và H2 tuy nhiên kết quả đối chất Huân không công nhận những nội dung do H trình bày. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không có đủ chứng cứ để xem xét, xử lý đối với H2.
Bản cáo trạng số 33/C-VKS-NS, ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo Triệu Phú H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu Phú H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử lý bị cáo như sau:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 26/6/2024.
- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy (H) hoàn lại sau khi giám định, giấy gói cũ, phong bì niêm phong cũ, 01 xi lanh có trong các phong bì niêm phong ký hiệu T150, B2, A3. Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động. Trả lại cho anh Triệu Văn H1 01 xe môtô.
- Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có bản bào chữa nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, về xử lý vật chứng. Đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt trong khung hình phạt của kiểm sát viên. Hình phạt bổ sung, án phí: Đề nghị không áp dụng và miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe môtô bị tạm giữ và không có đề nghị gì thêm.
Bị cáo khai nhận khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, bản bào chữa của người bào chữa; Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì. Lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt
Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Phú H khai nhận: Do nghiện ma túy nên ngày 26/6/2024, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 03 (Ba) gói ma túy (Heroine) có khối lượng 0,20 gam (Không phẩy hai không gam) trên người mục đích sử dụng cho bản thân và đã bị tổ công tác Công an xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn phát hiện lập biên bản bắt quả tang, tiến hành thu giữ toàn bộ tang vật.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 09 giờ 30 phút, ngày 26/6/2024; Biên bản mở đóng niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là chất ma túy và gửi mẫu giám định ngày 26/6/2024; Phù hợp với Kết luận giám định số 234/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; Phù hợp với các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có mâu thuẫn, không làm phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.
Vì vậy, có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của Triệu Phú H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều luật có nội dung:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
......
c) Heroine........ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự xã hội gây khó khăn cho nhà nước trong việc đẩy lùi các loại tội phạm về ma túy, là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và hệ lụy xấu của việc sử dụng chất ma túy đối với sức khỏe, kinh tế của chính bản thân người nghiện, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố tình tàng trữ ma túy để sử dụng. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn quyết định truy tố bị cáo trước Tòa án để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật, đúng với diễn biến khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo không có tiền án. Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ những nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên, người bào chữa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm, thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng.
[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Số ma túy (Heroine) hoàn lại sau khi giám định, giấy gói cũ, phong bì niêm phong cũ, 01 xi lanh là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động là tài sản của bị cáo, bị cáo khai nhận có được sử dụng chiếc điện thoại để liên lạc mua ma túy, tại phiên tòa không có đề nghị lấy lại nên cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe môtô Honda, loại xe WAVE màu sơn Đen-X-Bạc, BKS 97B1- 186.47 bị tạm giữ. qua điều tra, xác minh xác định được chiếc xe là tài sản của anh Triệu Văn H1 là con trai của bị cáo. Quá trình bị cáo sử dụng xe vào việc đi mua ma túy anh H1 không biết nên cần trả lại cho anh H1.
[7] Các vấn đề liên quan trong vụ án: Đối với người đàn ông theo bị cáo khai nhận được bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí. Do vậy bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Triệu Phú H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 26/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T150.
- - 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu B2.
- - 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu A3.
2.2. Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại tạm giữ của Triệu Phú H ngày 26/6/2024 có trong phong bì ký hiệu H3.
2.3. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Triệu Văn H1, sinh năm 2002, trú tại thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe WAVE màu sơn Đen-Xanh-Bạc; Biển kiểm soát 97B1-186.47.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Út Lệ |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép 0,20g ma túy
