|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày: 12 - 11 -2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Hạ và ông Tạ Văn Toan
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Việt Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hồng M – Sinh ngày 22 tháng 03 năm 2000 tại: tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phú C và con bà Hoàng Thị G; bị cáo chưa có vợ, có 01 con sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 117/QĐ-XPHC Ngày 21/07/2021 của Công an thành phố T, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Nguyễn Hồng M 1.000.000 đồng về hành vi "Đánh nhau". M chấp hành xong tiền phạt ngày 07/11/2024.
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0200751/QĐ-XPHC ngày 21/12/2023 của Công an phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Nguyễn Hồng M 1.500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy". M chấp hành xong tiền phạt ngày 07/11/2024.
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC Ngày 03/01/2024 của Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Nguyễn Hồng M 3.500.000 đồng về hành vi "Gây rối trật tự công cộng". M chấp hành xong tiền phạt 18/01/2024.
Nhân thân:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC Ngày 21/12/2019 của Công an phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Nguyễn Hồng M “Cảnh cáo” về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC ngày 02/06/2021 của Công an xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Nguyễn Hồng M 750.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy". M chấp hành xong tiền phạt ngày 04/06/2021.
- Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 09/2021/QĐ-TA ngày 07/07/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hồng M trong thời gian 15 tháng. Ngày 13/10/2022, M chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 27/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình theo Quyết định tạm giam số 31/2024/HSST-QĐTG ngày 14/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (có mặt).
2. Họ và tên: Phạm Xuân T – Sinh ngày 25 tháng 4 năm 2001 tại: huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm G, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân T1 và con bà Lê Thị T2; bị cáo chưa có vợ, có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 40/QĐ-XPHC Ngày 14/6/2020 của Công an phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Phạm Xuân T “Cảnh cáo” về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 27/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình Quyết định tạm giam số 30/2024/HSST-QĐTG ngày 14/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Đinh Văn Q, sinh năm: 2001; địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- + Chị Lại Thị N, sinh năm: 1982; địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- + Chị Phạm Thị N1, sinh năm: 1999; địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- + Anh Lê Viết B, sinh năm: 2003; địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hồng M và Phạm Xuân T có quan hệ quen biết nhau từ trước, trong khoảng thời gian từ ngày 15/06/2024 đến ngày 20/06/2024, M đã 03 lần bán ma túy cho T. Sau khi mua ma túy của M, T đã bán lại cho Đinh Văn Q để kiếm lời, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Do có nhu cầu sử dụng ma túy và để có tiền mua ma túy, Nguyễn Hồng M đã nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời và sử dụng cho bản thân nên ngày 14/6/2024 M bắt xe taxi của một người không quen biết đi đến khu vực cầu N thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định mua ma túy của một người đàn ông không quen biết. Người này đã bán cho M 01 túi nilon trong suốt bên trong có chất dạng tinh thể màu trắng với giá 2.000.000 đồng và đưa cho M 02 vỏ túi nilon trong suốt kích thước (3x4)cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa đường kẻ chỉ màu đỏ. Sau khi mua ma túy, M mang về nhà cất giấu dưới chiếu trong phòng ngủ.
Đến chiều ngày 15/6/2024, Nguyễn Hồng M mang túi nilon đựng ma túy mua ngày 14/6/2024 giấu trong người rồi đi ra khu vực công viên Q thuộc phường T, thành phố T. Khi này, Phạm Xuân T cũng đi đến khu vực công viên Q thì thấy Nguyễn Hồng M đang ngồi ở công viên. Thấy vậy, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 bên trong lắp sim số 0387256382 đăng nhập tài khoản zalo 'T" nhắn tin đến tài khoản zalo "Minh Công" của Nguyễn Hồng M được đăng ký bằng số điện thoại 0776.442.xxx đăng nhập trên chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max với nội dung "Bạn có đá không để tôi 1 triệu, tôi đang ở công viên Q đây". Hiểu ý của T hỏi mua ma túy đá với số tiền 1.000.000 đồng nên M nhắn tin lại "Có bạn ơi, đợi tôi tý tôi mang ra luôn". Sau đó M lấy túi nilon ma túy giấu trong người ra san một phần ma túy sang 01 túi nilon trong suốt kích thước (3x4)cm miệng túi có khóa kẹp nhựa đường kẻ chỉ màu đỏ để bán cho T, túi ma túy ban đầu M cất vào trong túi quần. Đến khoảng 13 giờ 55 phút cùng ngày, M và T gặp nhau tại ghế đá phía ngoài công viên Q. Tại đây M đọc số tài khoản ngân hàng M1 số 0776442647 mang tên Nguyễn Hồng M cho T để T chuyển khoản tiền mua ma túy. Sau đó T sử dung tài khoản ngân hàng V số 0387256382 mang tên Phạm Xuân T chuyển số tiền 1.000.000 đồng đến tài khoản của M. Sau khi nhận được tiền M đưa cho T 01 túi nilon bên trong là ma túy đá, T mang về nhà đến tối cùng ngày T đã sử dụng hết.
Lần thứ hai: Tối ngày 18/6/2024 Phạm Xuân T sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 bên trong lắp sim số 0387256382 đăng nhập tài khoản zalo 'T" nhắn tin đến tài khoản zalo "Minh Công" của Nguyễn Hồng M với nội dung "Để tôi túi đá 500.000, tôi chuyển tiền qua tài khoản cho bạn nhé". Hiểu ý của T hỏi mua ma túy đá với số tiền 500.000 đồng nên M nhắn tin lại "Ok, gặp nhau ở công viên nhé". Khoảng 21 giờ 51 phút cùng ngày, T chuyển số tiền 500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V1 số 0387256382 của T đến tài khoản ngân hàng M1 số 0776442647 của M rồi T bắt xe taxi của một người không quen biết đến công viên Q. Sau khi nhận được tiền của T, M tiếp tục lấy số ma túy mua ngày 14/6/2024 đang cất giấu trong người san một phần ma túy sang 01 túi nilon trong suốt kích thước (3x4)cm miệng túi có khóa kẹp nhựa đường kẻ chỉ màu đỏ để bán cho T. Đến khoảng 22 giờ 06 phút cùng ngày, M và T gặp nhau tại ghế đá phía ngoài công viên Q, tại đây M đưa cho T 01 túi nilon bên trong chứa ma túy đá. Sau khi mua ma túy đá của M, T mang về nhà sử dụng một phần, số ma túy còn lại T vẫn để trong túi nilon cất giấu tại đầu giường trong gian phòng ngủ nhà T.
Lần thứ ba: Do có nhu cầu sử dụng ma túy và biết Phạm Xuân T có ma túy bán nên Đinh Văn Q, sinh năm 2001 trú tại xóm H, xã Y, huyện Y sử dụng tài khoản Messenger tên "Quang A" đăng nhập trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11 bên trong lắp sim số 0812222135 là điện thoại Q mượn của mẹ là bà Lại Thị N, sinh năm 1982; trú tại xóm H, xã Y, huyện Y. Q liên lạc đến tài khoản Messenger tên "Phạm Xuân T" đăng nhập trên chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 bên trong lắp sim số 0387256382 của Phạm Xuân T với nội dung "Bạn còn ma túy đá không bán cho tôi 1 túi 5, mang xuống đoạn nghĩa trang nhé". Hiểu ý Q muốn mua ma túy đá với số tiền 500.000 đồng nên T nhắn lại "ok bạn ơi, chuyển tiền trước đến tài khoản V1, số tài khoản là số điện thoại 0387.256.xxx của tôi nhé". Đến 16 giờ 13 phút cùng ngày, Q sử dụng tài khoản ngân hàng T3 số 45521256789 của Q đến số tài khoản của T và chụp ảnh giao dịch gửi qua M cho T biết.
Sau khi nhận được tiền, T lấy số ma túy mua của M ngày 18/6/2024 chưa sử dụng hết cho vào 01 ống nhựa màu da cam có vạch kẻ màu trắng, hai đầu hơ sun nhiệt bịt kín kích thước (2x0,8)cm rồi cho ống nhựa vào trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng kích thước (9x5,5x2,2)cm mang ra khu vực nghĩa trang X để bán cho Q. Trên đường đi ra địa điểm bán ma túy cho Q, T gặp bạn là Lê Viết B sinh năm 2003; trú tại thôn C, xã Y, huyện Y điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 35AF-047.67. Thấy T đi bộ nên B rủ T đi rửa xe thì T đồng ý rồi điều khiển xe chở B đi. Trên đường đi T nói với B "đi xuống đây với anh một tý", B đồng ý nên T điều khiển xe mô tô đi đến khu vực nghĩa trang X để gặp Q. Khi đến nơi thấy Q đang đứng chờ ở đường trục bê tông gần khu vực nghĩa trang. Khi này T dừng xe, tay trái cầm vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa ống nhựa đựng ma túy ném xuống mặt đường cạnh bánh xe của T điều khiển đồng thời dùng tay chỉ về phía vỏ bao thuốc lá nói với Q "tôi vất ở đây nhé" thì Q đi đến nhặt vỏ bao thuốc lá cầm trên tay. T nói với Q "Lấy thêm đồ nữa thì lên Trại S lấy luôn với tôi không?" thì Q không đi. Sau đó, Q đi đến khu vực bờ mương gần nghĩa trang xóm Y, xã Y, huyện Y để sử dụng ma túy. Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày khi Q vừa xé miệng ống nhựa để chuẩn bị sử dụng ma túy thì thấy tổ công tác Công an huyện Y đang làm nhiệm vụ ở gần đó nên Q đã đổ ma túy trong ống nhựa xuống mương nước. Tổ công tác Công an huyện Y đã tiến hành lập biên bản, thu giữ 01 ống nhựa màu da cam có vạch kẻ màu trắng kích thước (2x0,8)cm bên trong bám dính chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu A) và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng kích thước (9x5,5x2,2)cm. Ngoài ra còn thu giữ của Đinh Văn Q 01 điện thoại di động Iphone11, 01 chiếc sim số 0812222135; thu giữ của anh Lê Viết B 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 35AF-047.67.
Ngày 21/6/2024, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra quyết định trưng cầu phòng K Công an tỉnh N giám định chất ma túy đối với chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong ống nhựa ký hiệu A thu giữ của Đinh Văn Q. Tại bản kết luận giám định số 563/KL- KTHS-MT ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
“Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong ống nhựa ký hiệu A là ma tuý, loại Methamphetamine. Lượng Methamphetamine bám dính ít, không xác định được khối lượng.
Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
H lại đối tượng giám định gồm một ống nhựa của mẫu ký hiệu A cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong”.
Trước khi mang ma túy đi bán cho Đinh Văn Q, vào khoảng 16 giờ 14 phút ngày 20/06/2024, Phạm Xuân T sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 bên trong lắp sim số 0387256382 đăng nhập tài khoản zalo 'T" nhắn tin đến tài khoản zalo "Minh Công" của Nguyễn Hồng M với nội dung "lấy cho t 1 tr; có luôn chưa b; về test thử". Hiểu ý T muốn mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng nên M yêu cầu T chuyển tiền trước nhưng T không đồng ý nên hẹn gặp nhau tại khu vực cửa hàng X1 thuộc thôn T, xã Y, huyện Y để mua bán ma túy. Sau khi T đặt mua ma túy, M lấy hết số ma túy còn lại mua ngày 14/6/2024 vào 01 túi nilon trong suốt kích thước (11,2x5,8)cm hơ sun nhiệt kín ngang miệng túi rồi cho vào một chiếc phong bì màu trắng không dán mép kích thước (17,5x10,5)cm để bán cho T. Sau đó M điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Espero 50C2, biển kiểm soát: 35AA- 033.39 mượn của chị Phạm Thị N1, sinh năm 1999; trú tại thôn C, xã Y, huyện Y đi đến Y gặp T. Khi đến nơi, M dừng xe ở khu vực sân phía trước cửa hàng X1 thuộc thôn T, xã Y, huyện Y đợi T, khi này trên tay M đang cầm chiếc phong bì màu trắng bên trong có túi nilon chứa ma túy để bán cho T, khi M chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang, thu giữ 01 túi nilon bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì (ký hiệu B). Ngoài ra còn thu giữ chiếc phong bì màu trắng không dán mép kích thước (17,5x10,5)cm; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max bên trong lắp sim số 0776442647; 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Espero 50C2, biển kiểm soát: 35AA-033.39.
Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi T bán ma túy cho Đinh Văn Q thì T không đi cùng Lê Viết B mà đi về nhà sau đó đi nhờ xe của một người không quen biết đến cửa hàng X1 để mua ma túy của Nguyễn Hồng M. Khi T đến thì thấy M bị Công an huyện Y bắt quả tang nên T đi về nhà, đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, biết không thể tiếp tục che giấu hành vi phạm tội, T đã đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú, giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 bên trong lắp sim số 0387256382. Ngoài ra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 35AF-04767 do anh Lê Viết B giao nộp.
Ngày 20/06/2024, tại cơ quan Công an huyện Y, Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì (ký hiệu B) thu giữ của Nguyễn Hồng M. Kết quả xác định chất dạng tinh thể màu trắng có khối lượng là 0,38 gam. Sau khi cân xác định khối lượng, chất dạng tinh thể màu trắng được cho vào 01 túi nilon trong suốt kích thước (7x4)cm và niêm phong vào 01 phong bì giấy ký hiệu M. Toàn bộ vỏ túi nilon, phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong vào 01 phong bì giấy ghi “Vỏ bao gói niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Hồng M ngày 20/06/2024 tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình”.
Ngày 21/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra quyết định trưng cầu phòng K Công an tỉnh N giám định chất ma túy đối với chất dạng tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu M thu giữ của Nguyễn Hồng M. Tại bản kết luận giám định số: 564/KL-KTHS-MT ngày 26/06/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3882 gam, là ma tuý, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
H lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,3548 gam, là ma tuý, loại Methamphetamine”
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 09 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng M ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phạm Xuân T ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng M và bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hồng M.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng M từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 20/6/2024.
- Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hồng M từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
- - Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Xuân T.
- Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 20/6/2024.
- Phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Xuân T từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
- - Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- * Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- + Buộc bị cáo Nguyễn Hồng M phải nộp lại số tiền 1.500.000 đồng;
- + Buộc bị cáo Phạm Xuân T phải nộp lại số tiền 500.000 đồng;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 thu giữ của Phạm Xuân T;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max thu giữ của Nguyễn Hồng M.
- * Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 thẻ sim số thuê bao 0812222135 thu giữ của Đinh Văn Q;
- + 01 thẻ sim lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8;
- + 01 thẻ sim lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max;
- + 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng;
- + 01 chiếc phong bì màu trắng không dán mép;
- + 0,3548 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì theo quy định, trên phong bì có ghi số 564/KL-KTHS-MT;
- + 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định, trên phong bì ghi "Vỏ bao gói niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Hồng M ngày 20/6/2024 tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình";
- + 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định, trên phong bì ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định", có ghi số 563/KL-KTHS-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng, trên giáp lai của phong bì có chữ ký bên giao, bên nhận và đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh N.
- - Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc các bị cáo Nguyễn Hồng M và Phạm Xuân T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã nêu. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt. Bị cáo Nguyễn Hồng M và Phạm Xuân T nói lời sau cùng tỏ ra ăn năn, hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Nguyễn Hồng M và bị cáo Phạm Xuân T tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Trong thời gian từ ngày 15/6/2024 đến ngày 20/6/2024, Nguyễn Hồng M đã 03 lần bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine cho Phạm Xuân T: tại khu vực công viên Q thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Hồng M đã bán trái phép Methamphetamine cho Phạm Xuân T vào ngày 15/6/2024 với giá tiền 1.000.000 đồng và vào ngày 18/6/2024 với giá tiền 500.000 đồng. Ngày 20/6/2024, M cất giấu trái phép 0,3882 gam Methamphetamine nhằm mục đích bán cho Phạm Xuân T thì bị Công an huyện Y phát hiện, bắt quả tang.
Ngày 20/6/2024, tại khu vực nghĩa trang X thuộc xóm H, xã Y, huyện Y, Phạm Xuân T đã sử dụng số Methamphetamine mua của Nguyễn Hồng M ngày 18/6/2024 để bán trái phép cho Đinh Văn Q với số tiền 500.000 đồng.
Tại điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Các bị cáo đều là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là hành vi pháp luật nghiêm cấm nhưng Nguyễn Hồng M vẫn cố ý 03 lần bán trái phép chất ma túy cho Phạm Xuân T và Phạm Xuân T cố ý bán 01 lần trái phép chất ma túy cho Đinh Văn Q để thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng M đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và hành vi của Phạm Xuân T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đối với các bị cáo theo bản Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Xuân T đã có thời gian phục vụ trong quân ngũ, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Công an huyện Y đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo Nguyễn Hồng M có 03 tiền sự và 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo Phạm Xuân T có 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
[4] Về hình phạt: các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy thể hiện ý thức coi thường pháp luật của các bị cáo. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật và có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
Bị cáo Nguyễn Hồng M và Phạm Xuân T là người trưởng thành, mua bán trái phép chất ma túy nhằm thu lợi bất chính nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Hồng M và Phạm Xuân T.
[5] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo Nguyễn Hồng M khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định, bị cáo không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ của người này, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đinh Văn Q đã 01 lần mua ma túy của Phạm Xuân T mục đích để sử dụng nhưng Q chưa kịp sử dụng thì gặp tổ công tác Công an huyện Y nên Q đổ ma túy xuống mương nước, số ma túy còn lại bám dính trong ống nhựa thu giữ của Q, do lượng ma túy bám dính ít, không xác định được khối lượng nên Công an hyện Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đinh Văn Q là phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị Phạm Thị N1 là chủ sở hữu chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Espero 50C2, biển kiểm soát 35-AA 033.39 đã cho Nguyễn Hồng M mượn để đi bán ma túy cho Phạm Xuân T; anh Lê Viết B là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 35AF-047.67 đã cho Phạm Xuân T đi cùng để bán ma túy cho Đinh Văn Q. Tuy nhiên, chị N1, anh B không biết Nguyễn Hồng M, Phạm Xuân T sử dụng xe làm phương tiện để đi bán ma túy do đó chị N1 và anh B không vi phạm pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Bị cáo Nguyễn Hồng M bán ma túy cho Phạm Xuân T thu lợi bất chính 1.500.000 đồng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, do chưa thu giữ được số tiền trên nên cần buộc Nguyễn Hồng M nộp lại số tiền 1.500.000 đồng; bị cáo Phạm Xuân T bán ma túy cho Đinh Văn Q thu lợi bất chính 500.000 đồng, do chưa thu giữ được số tiền trên nên cần buộc Phạm Xuân T nộp lại số tiền 500.000 đồng là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 thu giữ của Phạm Xuân T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max thu giữ của Nguyễn Hồng M là công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp với quy định điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với 01 thẻ sim số thuê bao 0812222135 thu giữ của Đinh Văn Q; 01 thẻ sim lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8; 01 thẻ sim lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 chiếc phong bì màu trắng không dán mép; 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định, trên phong bì ghi "Vỏ bao gói niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Hồng M ngày 20/6/2024 tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình"; 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định, trên phong bì ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định", có ghi số 564/KL-KTHS-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng, trên giáp lai của phong bì có chữ ký bên giao, bên nhận và đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh N; 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định, trên phong bì ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định", có ghi số 563/KL-KTHS-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng, trên giáp lai của phong bì có chữ ký bên giao, bên nhận và đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh N là công cụ, phương tiện phạm tội, vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị hoặc không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Bị cáo Nguyễn Hồng M và Phạm Xuân T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hồng M;
- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Xuân T;
- Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng M và bị cáo Phạm Xuân T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng M 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 20/6/2024.
- Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hồng M 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 20/6/2024.
- Phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Xuân T 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 thu giữ của Phạm Xuân T;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max thu giữ của Nguyễn Hồng M;
- + Buộc bị cáo Nguyễn Hồng M phải nộp lại số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Phạm Xuân T phải nộp lại số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 thẻ sim số thuê bao 0812222135 thu giữ của Đinh Văn Q;
- + 01 thẻ sim lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8;
- + 01 thẻ sim lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max;
- + 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng;
- + 01 chiếc phong bì màu trắng không dán mép;
- + 0,3548 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì theo quy định, trên phong bì có ghi số 564/KL-KTHS-MT;
- + 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định, trên phong bì ghi "Vỏ bao gói niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Hồng M ngày 20/6/2024 tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình";
- + 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định, trên phong bì ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định", có ghi số 563/KL-KTHS-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng, trên giáp lai của phong bì có chữ ký bên giao, bên nhận và đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh N.
Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mô ngày 09/10/2024.
4. Về án phí:
Buộc bị cáo Nguyễn Hồng M và bị cáo Phạm Xuân T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Minh |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hồng M và đồng phạm phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
