Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 40/2024/HS - ST

Ngày 22/4/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Mỳ.

2. Bà Đinh Thị Đức.

Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đ, Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST - HS ngày 08/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST - HS ngày 09/4/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Xuân T, sinh ngày 26/7/1980; Giới tính: Nam;

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: xóm A, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

    Nơi tạm trú trước khi phạm tội: 109 Cầu K, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Bố: Nguyễn Hữu Đlsinh năm 1955; Mẹ: Nguyễn Thị H năm 1954. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị T1sinh năm 1983 (Đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/02/2024 đến ngày 12/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nguyễn Văn H1, sinh ngày 15/9/1980; Giới tính: Nam;

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Bố: Nguyễn Văn Đ2sinh năm 1957; Mẹ: Nguyễn Thị N năm 1959. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Vợ: Nông Thị V năm 1982; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2005;

    Tiền án, tiền sự: Không;

  3. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/02/2024 đến ngày 12/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh ngày 26/9/1985; Giới tính: Nam;

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Q, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Bố: Nguyễn Hữu V1(Đã chết); Mẹ: Phạm Thị T2sinh năm 1966. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Phùng Thị H2sinh năm 1993; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2021;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/02/2024 đến ngày 12/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Đào Đình Q, sinh ngày 28/8/1988; Giới tính: Nam;

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Bố: Đào Đình Đ3sinh năm 1957; Mẹ: Nguyễn Thị D năm 1960. Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình. Vợ: Hoàng Thị M năm 1994; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019;

    Tiền án: có 01. Tại Bản án số 136/2022/HSST ngày 23/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, phạt tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Ngày 23/11/2023, Q1 hành xong thời gian thử thách. Bản án chưa được xóa án tích.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/02/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ3 Có mặt tại phiên tòa.

  6. Họ và tên: T11, sinh ngày 08/7/1988; Giới tính: Nam;

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Bố: Triệu Văn P(Đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị T3sinh năm 1964. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình. Vợ: Triệu Thị M1sinh năm 1995; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2021;

    Tiền án: có 01. Tại Bản án số 28/2019/HSST ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, phạt tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Ngày 26/10/2020 Q1chấp hành xong thời gian thử thách. Bản án chưa được xóa án tích.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/02/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ3 Có mặt tại phiên tòa.

  7. Họ và tên: L1, sinh ngày 06/5/1989; Giới tính: Nam;

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Q, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Bố: Không xác định; Mẹ: Lương Thị L năm 1954. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Vợ: Đỗ Thị T4sinh năm 1991 (Đã ly hôn); Con: Có 01 con, sinh năm 2012;

    Tiền án: có 01. Tại Bản án số 337/2023/HSST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án chưa được xóa án tích.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/02/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ3 Có mặt tại phiên tòa.

  8. Họ và tên: Nguyễn Văn H2, sinh ngày 10/4/1990; Giới tính: Nam;

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Bố: Nguyễn Văn T1 (Đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị N1sinh năm 1962. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị T6sinh năm 1994; Con: Có 01 con, sinh năm 2019;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/02/2024 đến ngày 12/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

  9. Họ và tên: Đỗ Quang T2, sinh ngày 15/6/1968; Giới tính: Nam;Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Làng Thượng, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Bố: Đỗ Quang T8sinh năm 1941; Mẹ: Nguyễn Thị M2sinh năm 1947. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Mai Thị N2sinh năm 1968; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1989;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Năm 1997, Tòa án nhân dân tối cao xử phạt Tạo 36 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”. Bản án đã được xóa án tích.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/02/2024 đến ngày 12/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có QLNVLQ: bà Mai Thị N1, sinh năm 1968. Trú tại: xóm Làng Thượng, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyênanh Đào Việt B, sinh năm 1995. Trú tại: xóm H, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; anh Hầu Văn C, sinh năm 1990. Trú tại: xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; anh Lê Thái Đ1, sinh năm 1983. Trú tại: xóm L, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; (Vắng mặt anh B1 Đ4bà N2 có mặt anh C);

* Người làm chứng: anh Đ4, sinh năm 1995. Trú tại: xóm H, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; anh Hầu Văn C, sinh năm 1990. Trú tại: xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; anh Lê Thái Đ1, sinh năm 1983. Trú tại: xóm L, xã P, Đ, Thái Nguyên; (Vắng anh B1anh Đ4; có mặt anh C).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 09/02/2024, Công an xã Đ3, tỉnh Thái Nguyênlàm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã thì phát hiện tại gia đình Đỗ Quang T7thuộc xóm L2, xã P, huyện Đ đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền gồm: Nguyễn Xuân TNguyễn Văn H Văn SĐào Đình QTriệu Văn Q Xuân Q Văn H3Bản thân Đỗ Quang T7là chủ nhà đã đồng ý cho 07 đối tượng trên đánh bạc tại nhà mình và cung cấp 01 bộ bài tú lơ khơ để các đối tượng đánh bạc. Vật chứng thu giữ tại vị trí các đối tượng đánh bạc gồm: số tiền 13.850.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 16 tấm xốp màu xanh có cùng kích thước (60 x 60) cm, cũ đã qua sử dụng.

Ngoài ra, những người có mặt tại nơi xảy ra vụ việc tự nguyện giao nộp những đồ vật, tài sản sau:

  • + Nguyễn Xuân T3 nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh, bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0976.767.xxx và 900.000 đồng tiền Ngân hàng N2;
  • + Nguyễn Văn H1tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đỏ, bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0865.711.xxx;
  • + Nguyễn Văn S1 nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di dộng màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0974.871.xxx và 3.000.000 đồng tiền Ngân hàng N2;
  • + Đào Đình Q2 nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme 5i màu xanh, bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0983.407.xxx;
  • + Triệu Văn Q1tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di dộng màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0989.784.xxx;
  • + Lương Xuân Q2tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Galaxy A12 màu đen, bên trong lắp 02 sim điện thoại số thuê bao 0819.815.xxx và 0967.596.589;
  • + Nguyễn Văn H3tự nguyện giao nộp 500.000 đồng tiền Ngân hàng N2;
  • + Anh Đào Việt Bách tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu xanh, bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0971.255.xxx và 9.010.000 đồng tiền Ngân hàng N2;
  • + Anh Hầu Văn C1 nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0859.185.xxx và 850.000 đồng tiền Ngân hàng N2;
  • + Anh Lê T4 Đ4tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di dộng, nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0979.114.xxx; 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A78 màu đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0965.475.xxx và 910.000 đồng tiền Ngân hàng N3

Tổ công tác Công an xã P biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với TH1SQQ1Q2H3T7về hành vi đánh bạc và tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã P1 đã chuyển hồ sơ, vật chứng cùng đối tượng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân TNguyễn V2 H1Nguyễn Văn SĐào Đình QTriệu Văn Q Xuân Q Văn H3Đỗ Q3 T7cùng khai nhận như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 09/02/2024, H1sang nhà Trủ T5 chơi rồi về lấy xe mô tô BKS: 20F1-606.26 (là xe của anh Nguyễn Văn H3 - em trai H1) đến chở Tđi theo chỉ dẫn của Tvào xã P2, huyện Đ chờ đón giao thừa. Trên đường đi, T, H1gặp H3và anh Lê Thái Đ1 (sinh năm 1983, trú tại: xóm L, xã P, huyện Đ, anh Đ4và H3đi theo TH1Ngoài ra, TH1còn gặp SQQ1đang đi bộ trên đường. Trước đó SQQ1rủ nhau đi tìm chỗ đánh bạc và Sgọi cho anh Hầu Văn C (sinh năm 1990, trú tại: xóm C, xã P, huyện Đ nghề lái xe taxi đến đưa đi. Anh C2 khiển xe taxi chở nhóm của S2 khu vực ngã ba Khu  thuộc xã P, huyện Đ SQQ1xuống xe đi bộ. Thấy vậy, Shỏi T6 chỗ nào đánh bạc vui xuân không thì lúc này do chưa có chỗ nào đánh bạc nên Tbảo Slà không có. Sau đó, T7 H1điều khiển xe mô tô đến nhà T7ở xóm L, xã P. Tại đây, do cũng muốn đánh bạc vui xuân nên T8 hỏi T7cho mượn chỗ đánh bạc thì T7đồng ý. Sau khi có địa điểm đánh bạc, T9 điện thoại cho S3 bảo S4 vào nhà T7Lúc này, Hlđiều khiển xe mô tô đi ra ngoài mua thuốc lá thì gặp nhóm của SCùng lúc đó Q2đi đổ xăng xe mô tô cũng gặp nhóm của S nên Hlđiều khiển xe mô tô chở Q; Q2điều khiển xe mô tô chở Q1Sđến nhà T7Sau đó TH1QQ1Q2Sđi vào phòng ngủ nhà T7và ngồi trên các tấm thảm xốp đã trải sẵn trong phòng ngủ, đồng thời T7lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân để trên cửa sổ đưa cho 06 người này để đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Trong khi cả nhóm đang đánh bạc thì anh Đ4và H3đến đi vào buồng ngủ nhà T7thấy cả nhóm đang đánh bạc nên H3tham gia đánh bạc cùng. Khoảng 10 phút sau thì anh B1và anh C3 đến ngồi chơi và xem cả nhóm đánh bạc. Khi cả nhóm tiếp tục đánh bạc đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác Công an xã Pphát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Về hình thức đánh bạc là đánh “Liêng” được thua bằng tiền: Các đối tượng thống nhất sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân để đánh bạc. Trong mỗi ván bạc, mỗi người chơi đặt vào giữa chiếu bạc 50.000 đồng (gọi là tiền “Gà”) và được chia 03 quân bài theo chiều kim đồng hồ để tính điểm rồi tham gia tố (đặt cược), người chia bài (là người cầm cái) được quyền tố đầu tiên. Mỗi người chỉ được tố không quá 03 lần trong một ván, trong một lần tố thì mức tố thấp nhất là 50.000 đồng, mức tố cao nhất là 100.000 đồng, ai không theo thì úp bài và thua tiền “Gà”, ai tố theo mà thua thì bị mất cả tiền “Gà” và tiền tố theo. Người thắng ván bài là người tố nhưng không có ai theo hoặc thắng bằng cách tính điểm, người thắng sẽ được tiền “Gà” và tiền của những người tham gia tố, người thắng ván trước sẽ được chia bài ván sau. Cách thức tính điểm được quy ước theo thứ tự từ cao đến thấp lần lượt như sau:

“Sáp” là 03 quân bài giống nhau, ví dụ: 8, 8, 8; Q, Q, Q ... Nếu nhiều người chơi cùng có S1thì người nào có Sáp cao hơn sẽ thắng. Trong Sáp thì Sáp A, A, A (át) là cao nhất, Sáp 2, 2, 2 là thấp nhất.

“Liêng” là 03 quân bài liên tiếp liền kề nhau không nhất thiết phải đồng chất, đồng màu, ví dụ: 3, 4, 5; 10, J, Q... Nếu nhiều người chơi cùng có L1thì so giá trị như S1Trong Liêng thì Liêng Q, K, A là cao nhất, Liêng A12, 3 là thấp nhất. Nếu hai người cùng có Liêng giống nhau thì mới so đến chất của lá bài theo thứ tự “rô - cơ - bích - tép”, trong đó rô là lớn nhất, tép là nhỏ nhất.

“Ảnh” là 03 quân bài J, Q, K trong đó có 02 quân bài giống nhau, ví dụ: J, J, K; Q, Q, K ... Nếu nhiều người cùng có Ảnh thì sẽ so sánh chất của lá bài theo thứ tự “rô - cơ - bích - tép”, trong đó rô là lớn nhất, tép là nhỏ nhất.

Nếu bài không thuộc trường hợp S1L1Ảnh thì sẽ tính điểm. Ba quân bài được cộng lại theo quy ước: Các quân bài từ A đến 9 được tính theo thang điểm từ 01 đến 09; các quân bài 10, J, Q, K được tính là không có điểm, khi tính điểm thì 09 điểm là cao nhất.

Về vị trí đánh bạc, các đối tượng ngồi theo vòng tròn, S5 gần vị trí cửa ra vào phòng ngủ, tính từ Stheo chiều kim đồng hồ lần lượt là H3Q1TQQ2H1anh B1ngồi phía sau S, anh Đ4ngồi phía sau H3 anh C4 phía sau Tvà Q1 Trước khi đánh bạc, T7là người chuẩn bị 01 bộ bài 52 quân cho 07 người còn lại làm công cụ đánh bạc, không có ai tổ chức đánh bạc, không có ai thu tiền hồ, không có ai canh gác, cảnh giới, không có ai cho vay tiền hay cầm cố tài sản.

Quá trình đánh bạc: Qmang theo 4.150.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc; Smang theo 3.600.000 đồng, sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc, nếu thua và không bị bắt quả tang thì sẽ sử dụng hết 3.000.000 đồng cất trên người để đánh bạc; Q1mang theo 2.000.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc; Tmang theo 2.350.000 đồng, sử dụng 1.450.000 đồng để đánh bạc, còn lại 900.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc; H1mang theo 3.250.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc; H3mang theo 2.250.000 đồng, sử dụng 1.750.000 đồng để đánh bạc, nếu thua và không bị bắt quả tang thì sẽ sử dụng hết 500.000 đồng cất trên người để đánh bạc; Q2mang theo 650.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc ngày 09/02/2024 tại nhà của Đỗ Quang T2 là 17.350.000 đồng, trong đó gồm 13.850.000 đồng thu tại chiếu bạc, 3.000.000 đồng thu giữ trên người Svà 500.000 đồng thu giữ trên người H3.

Đối với các đồ vật, tài sản tạm giữ, quá trình điều tra đã xác định:

01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh và 900.000 đồng tiền Ngân hàng N3thu giữ của Nguyễn Xuân T10 Tkhông sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc; 01 điện thoại di dộng màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, thu giữ của Nguyễn Văn S 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đỏ thu giữ của Nguyễn Văn H1 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng và 850.000 đồng tiền Ngân hàng N3thu giữ của anh Hầu Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu xanh và 9.010.000 đồng tiền Ngân hàng N3thu giữ của anh Đ2 Bách; 01 điện thoại di dộng, nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A78 màu đen và 910.000 đồng tiền Ngân hàng N3thu giữ của anh Lê Thái Đ1

Tiến hành kiểm tra đối với 07 chiếc điện thoại nêu trên không phát hiện nội dung tin nhắn hay các thông tin khác liên quan đến hành vi đánh bạc; số tiền trên cũng không được sử dụng vào mục đích đánh bạc. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại số tài sản, đồ vật trên cho TSHlanh Canh B1 và anh Đ4

Vật chứng của vụ án gồm:

  • - 01 bộ tú lơ khơ 52 quân, được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1; 16 tấm thảm xốp màu xanh có cùng kích thước (60 x 60) cm; 17.350.000 đồng tiền Ngân hàng N3 (trong đó gồm 13.850.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc; 3.000.000 đồng thu giữ của S500.000 đồng thu giữ của H3là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc);
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu M1, bên trong là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5i màu xanh, bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0983.407.782; 01 bì niêm phong ký hiệu M2, bên trong là 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Galaxy A12 màu đen, bên trong lắp 02 sim số thuê bao 0819.815.727 và 0967.596.589; 01 bì niêm phong ký hiệu M3, bên trong là 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0989.784.172;

Tại cáo trạng số 46/CT - VKSĐT ngày 05/4/2024, VKSND dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân TNguyễn V2 H1Nguyễn Văn SĐào Đình QTriệu Văn Q Xuân Q Văn H3Đỗ Quang T7 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS .

Tại phiên tòa đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 65 BLHS đối với các bị cáo TSH3H1. Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321; điểm s khoản 1 + (khoản 2 đối với bị cáo Q) Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 38 BLHS đối với các bị cáo QQ1Q2. Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 65 BLHS đối với bị cáo T7Xử phạt: các bị cáo TSH3H1 mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo; xử phạt: các bị cáo QQ1Q2 mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. xử phạt: bị cáo T2 từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung 8/8 bị cáo, mỗi bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng sung quỹ Nhà nước; Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc 8/8 bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận:

Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận. Thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người, đúng tội, không oan; nói lời sau cùng: đều xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

{1}. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

{2.}Về căn cứ buộc tội: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ diễn biến, hành vi nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 09/02/2024, tại phòng ngủ của Đỗ Quang T7thuộc xóm L2, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái NguyênĐỗ Quang T7đã đồng ý và cung cấp 01 bộ tú lơ khơ cho Nguyễn Xuân TNguyễn V2 H1Nguyễn Văn STriệu Văn Q1Đào Đình QLương X Q2Nguyễn Văn H3đánh bạc bằng hình thức đánh “LIÊNG” được thua bằng tiền. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị Tổ công tác Công an xã P hiện bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 17.350.000 đồng cùng một số vật chứng có liên quan khác. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Bản cáo trạng số 46/CT - VKSĐT ngày 05/4/2024 của VKSND huyện Đại Từ truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung khỏan 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền có trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

{3}. Xét tính chất hành vi và vai trò phạm tội của các bị cáo:

Tính chất hành vi đánh bạc của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Để chờ đón giao thừa nhân dịp tết Giáp Thìn 2024, 7/8 bị cáo đã cùng nhau đến nhà bị cáo T2 chơi, tại đây bị cáo T hỏi và đặt vấn đề cho các bị cáo được đánh bạc tại nhà bị cáo T2, bị cáo T7đã đồng ý và cho các bị cáo vào trong phòng ngủ của mình để đánh bạc, đồng thời lấy bộ bài tú lơ khơ của gia đình đưa cho các bị cáo đánh bạc. Quá trình đánh bạc không có sự rủ rê, lôi kéo, tổ chức hay xúi giục người khác đánh bạc; không cho vay, cầm cố hoặc thu tiền đánh bạc; không phân công canh gác, cảnh giới để đánh bạc; số tiền đánh bạc đủ định lượng cấu thành tội phạm nên các bị cáo đều có vai trò đồng phạm giản đơn như nhau là người thực hiện hành vi “Đánh bạc”. Trong đó, bị cáo T2 cấu thành với vai trò đồng phạm giúp sức; các bị cáo còn lại đều cấu thành với vai trò là người thực hiện.

{4}. Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo QQ1Q2phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm hkho ản 1 Điều 52 BLHS. Các bị cáo TSH3H1T7không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.

Các bị cáo TSH3H1 được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 BLHS là: "Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng" và "Người phạm tội thành khẩn khai báo";

Bị cáo T7được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS là "Người phạm tội thành khẩn khai báo" và "bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất".

Các bị cáo QQ1Q2 được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là "Người phạm tội thành khẩn khai báo" và phải chịu 01 tình tiết tăng nặng quy định lại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS là “Tái phạm”; bị cáo Đào Đình Q4 bố đẻ là bệnh binh nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

{5}. Xét nhân thân của các bị cáo thì thấy: các bị cáo đều được sinh ra và lớn lên trong gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đủ nhận thức về các việc làm đúng sai của bản thân; 4/8 bị cáo là những người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; 4/8 bị cáo là người đã bị xét xử, trong đó có 3/8 bị cáo là người chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, do ham chơi và coi thường pháp luật nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

{6}. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy. Các bị cáo đều là những người lao động bình thường, một số bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự; một số bị cáo đang có tiền án; 01 bị cáo đã bị xét xử từ năm 1997, đến nay đã được xóa án tích (bị cáo T7). Các bị cáo đều phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phần lớn đều có từ 02 tình tiết giảm nhẹ và đều có động cơ, mục đích phạm tội là người thực hiện (trừ bị cáo T7có vai trò giúp sức); đều thực hiện hành vi đánh bạc với vai trò đồng phạm giản đơn, do ham chơi; không có tính tổ chức hay dụ dỗ, xúi giục người khác phạm tội ... Đối chiếu với các quy định của pháp luật, khi quyết định hình phạt HĐXX cần cân nhắc, xem xét để có mức hình phạt cho phù hợp, đảm bảo tính nghiêm minh, đúng pháp luật và đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: cần phạt bổ sung 8/8 bị cáo, mỗi bị cáo một khoản tiền theo quy định để sung quỹ Nhà nước.

{7}.Về vật chứng vụ án:

  • + 17.350.000 đồng tiền Ngân hàng N2 (trong đó gồm 13.850.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc; 3.000.000 đồng thu giữ của S500.000 đồng thu giữ của H3là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc). Xác định là công cụ, phương tiện phạm tội cần được tịch thu sung Quỹ Nhà nước.
  • + 01 bộ tú lơ khơ 52 quân, được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1; 16 tấm thảm xốp màu xanh có cùng kích thước (60 x 60) cm. Là công cụ phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng, được tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 bì niêm phong ký hiệu M1, bên trong là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5i màu xanh, bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0983.407.782 thu giữ của bị cáo Q; 01 bì niêm phong ký hiệu M2, bên trong là 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Galaxy A12 màu đen, bên trong lắp 02 sim số thuê bao 0819.815.727 và 0967.596.589 thu giữ của bị cáo Q2; 01 bì niêm phong ký hiệu M3, bên trong là 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0989.784.172 thu giữ của bị cáo Q5. Xác định không liên quan đến vụ án, được trả lại cho các bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

{8}. Về án phí: 8/8 bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

{9}. Các nội dung có liên quan khác:

Liên quan đến vụ án còn có L3 B2và Hầu Văn C, do chỉ ngồi xem các bị cáo đánh bạc, không tham gia đánh bạc, không có hành vi giúp sức nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đkhông xem xét xử lý đối với Đ4B2C

Liên quan đến một số các tài liệu, đồ vật, tiền mặt cơ quan công an thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình xử lý vật chứng, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Tvà S6 xác nhận có sử dụng điện thoại để liên lạc rủ nhau đi đánh bạc. Do cơ quan điều tra đã trả lại khi xử lý vật chứng nên HĐXX không có căn cứ để xem xét. HĐXX kiến nghị cơ quan điều tra xem xét về quy trình xử lý đối với các vật chứng trên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

Các bị cáo Nguyễn Xuân TNguyễn V2 H1Nguyễn Văn SĐào Đình QTriệu Văn Q Xuân Q Văn H3Đỗ Quang T phạm tội “Đánh bạc”;

1. Áp dụng:

khoản 1,3 Điều 321; điểm i,s khoản 1; Điều 51; Điều 17; 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự;

+ Xử phạt:

bị cáo Nguyễn Xuân T 07 (bẩy) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt:

bị cáo Nguyễn Văn H1 07 (bẩy) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm..

+ Xử phạt:

bị cáo Nguyễn Văn S 07 (bẩy) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt:

bị cáo Nguyễn Văn H2 07 (bây) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Xuân T cho UBND xã P3; bị cáo Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H2 cho UBND xã T12; bị cáo Nguyễn Văn S cho UBND xã Y thuộc huyện Đ, tỉnh Thái Nguyêngiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.

2. Áp dụng:

khoản 1,3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt:

bị cáo Đỗ Quang T2 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Đỗ Quang T2 cho UBND xã P3, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyêngiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.

3. Áp dụng:

khoản 1,3 Điều 321; điểm s khoản 1 + (khoản 2 đối với bị cáo QĐiều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 BLHS;

  • + Xử phạt:
  • bị cáo Đào Đình Q 07 (bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2024.
  • + Xử phạt:
  • bị cáo Triệu Văn Q6 07 (bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2024.

Áp dụng: Điều 329 BLTTHS quyết định tạm giam bị cáo QQ1mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

4. Áp dụng:

khoản 1,3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 56; khoản 5 Điều 65 và Điều 38 BLHS;

Xử phạt:

bị cáo Lương X Q2 09 (chín) tháng tù. Chuyển 06 tháng tù cho hưởng án treo tại bản án số 337/2023/HSST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội thành án giam. Tổng hợp, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 15 (mười lăm) tháng tù, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam theo bản án số 337/2023/HSST ngày 18/12/2023 của TAND Quận Long Biên, TP Hà Nội từ ngày 07/11/2023 đến ngày 10/11/2023. Thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2024.

Áp dụng: Điều 329 BLTTHS quyết định tạm giam bị cáo Q245 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

* Hình Phạt bổ sung:

Phạt bổ sung các bị cáo TH1SQQ1Q2H3T7 mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.

* Về vật chứng:

Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS;

  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền: 17.350.000 đồng tiền Ngân hàng N2;
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 16 tấm thảm xốp màu xanh có cùng kích thước (60 x 60) cm .
  • + Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5i màu xanh, bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0983.407.782 cho bị cáo Q; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Galaxy A12 màu đen, bên trong lắp 02 sim số thuê bao 0819.815.727 và 0967.596.589 cho bị cáo Q2; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0989.784.172 cho bị cáo Q1nhưng đều được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 42/QĐ - VKSĐT ngày 05/4/2024 của VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cùng các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).

* Về án phí:

Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo TH1SQQ1Q2H3T7 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST sung công quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho các bị cáo và người có QLNVLQ được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định đối với người vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh + huyện Đại Từ;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - THAHS + THADS Đại Từ;
  • - Bị cáo + Người có QLNVLQ;
  • - UBND xã Phú Xuyên, Phú Thịnh,
  • Yên Lãng, Tiên Hội;
  • - Lưu hồ sơ + VT.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XETX XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS - ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 40/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân T + đồng phạm đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger