Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TƯ NGHĨA

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày: 18 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Sơn.
  2. Ông Nguyễn Phước Đạt.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số: 649/TB-TA ngày 10/9/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Cù Thị Thúy D; giới tính: nữ; tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 9 năm 1987 tại tỉnh Quảng Ngãi; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: buôn bán; nơi thường trú: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; họ tên cha: Cù Minh D1; họ tên mẹ: Nguyễn Thị B; chồng: Trần Văn A, có 02 con: con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/6/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi R, sinh năm 1936, địa chỉ: Thôn X, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi và ông Trần Văn N, sinh năm 1979, cùng địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi (đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 04/12/2023, Phòng C1 công an tỉnh Q phối hợp với công an xã N, huyện T kiểm tra phát hiện Cù Thị Thúy D đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề thắng thua bằng tiền cho người khác tại tiệm tạp hóa “Thúy Diễm” ở thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Người đánh số lô, số đề đến gặp D để ghi. Tại đây, D sử dụng bút bi ghi các số lô, số đề của người mua vào 02 tịch đề chung (tịch này để D tính tổng các con số lô, số đề để đối chiếu kết quả và chung chi với người trúng số lô, số đề). Đồng thời D ghi số lô, số đề của từng người mua vào 01 mảnh giấy nhỏ (phôi đề) giao lại cho người mua (đối chiếu kết quả, chung thưởng sau khi có kết quả xổ số). Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc và tạm giữ đồ vật, tài liệu liên quan để có cơ sở xử lý về sau.

- Tại Cơ quan Công an, bị cáo khai nhận trong ngày 04/12/2023 đã có hành vi bán số lô, số đề như sau:

+ Bán cho 07 người vào 01 tờ tịch đề với tổng số lô, số đề với tổng số tiền bán ở đài miền N (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Cà Mau) là 4.422.000đồng; trong đó, bị cáo chỉ biết ông Trần Văn N ở thôn A, xã N đánh đầu đuôi con số 52 mỗi số 5.000đồng tổng cộng là 30.000 đồng (ông N không trúng).

+ Bán cho 05 người vào 01 tờ tịch đề với tổng số tiền bán ở đài miền T (Phú Yên) là 2.019.000đồng, trong đó, bị cáo chỉ biết ông Bùi R đánh đầu đuôi con số 85 mỗi con 3000đồng, tổng tiền là 6.000đồng.

Tại thời điểm công an tỉnh Q lập biên bản hành vi bán số lô, số đề là sau khi có kết quả mở thưởng của đài TP ., Đồng Tháp, Cà Mau. Qua đối chiếu kết quả thì số tiền trúng thưởng gồm đài TP . có các con số: 89, 93, 86 tổng số tiền trúng thưởng là 980.000đồng; đài Cà Mau gồm các con số: 09, 59, 35, 78, 86, 84, 85 tổng số tiền trúng thưởng là 1.470.000đồng; đài Đồng Tháp gồm các con số: 32, 13, 88 tổng số tiền trúng thưởng là 2.870.000đồng; tổng cộng tiền trúng: 5.320.000đồng. Đài miền T (Phú Yên) chưa có kết quả mở thưởng.

Như vậy, tổng số tiền bị cáo Cù Thị Thúy D đánh bạc trong một lần trong ngày 04/12/2023 là 9.742.000đồng (gồm tiền mua số lô, số đề 4.422.000đồng và tiền trúng 5.320.000đồng của các đài TP ., Đồng Tháp, Cà Mau).

Bị cáo khai nhận, tiền mua số lô, số đề 6.441.000đ (của các đài TP ., Đồng Tháp, Cà Mau và Phú Yên), người mua đã giao đủ cho bị cáo. Số tiền trúng 5.320.000đồng bị cáo chưa giao trả cho người trúng.

* Vật chứng thu giữ: 02 tờ giấy có ghi các số và chữ có ký xác nhận của Cù Thị Thúy D ở cuối tờ giấy; 01 cây bút bi đã qua sử dụng và số tiền 230.000đồng.

Ngày 10/6/2024, tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã nộp số tiền 11.531.000đồng.

* Kết luận giám định: Tại bản kết luận giám định số 136/KL-KTHS ngày 25/02/2024 của Phòng C1 công an tỉnh Q về việc giám định chữ viết như sau: “Chữ viết, chữ số ghi trong hai tờ giấy gửi giám định, có chữ ký ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên Cù Thị Thúy D (ký hiệu A1, A2) với chữ viết của bà Cù Thị Thúy D trong ba “BẢN TỰ KHAI/BẢN TƯỜNG TRÌNH”, cùng đề ngày 05/01/202 (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một người viết ra”.

* Hành vi của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đối với ông Bùi R và ông Trần Văn N, quá trình làm việc tại cơ quan điều tra đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình, số tiền mua đề đã trả cho bị cáo lúc mua. Tuy nhiên, hành vi của ông R, ông N chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Đánh bạc”; đồng thời, qua kết quả tra cứu, xác định ông R và ông N đều không có tiền án, tiền sự. Do đó, Cơ quan cảnh sát đều tra công an huyện T đã chuyển hồ sơ cho công an huyện T xử lý theo thẩm quyền (ngày 06/6/2024, ông R và ông N bị xử phạt vi phạm hành chính mỗi người số tiền 300.000đồng, đã nộp phạt xong).

- Tại cáo trạng số: 27/CT-VKS-TN ngày 28/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa truy tố bị cáo Cù Thị Thúy D về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 45.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản các điều 46, 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 cây bút bi đã qua sử dụng; buộc bị cáo phải nộp số tiền 11.761.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện là hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ giải quyết vụ án.

[1.2]. Về xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi R và ông Trần Văn N; tuy nhiên, ông R và ông N đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn tộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

[2.1]. Về định tội: Khoảng 16 giờ 50 ngày 04/12/2023, Phòng C1 công an tỉnh Q phối hợp với công an xã N, huyện T kiểm tra phát hiện Cù Thị Thúy D đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề thắng thua bằng tiền cho người khác thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi với số tiền đánh bạc là 9.742.000đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về hành vi phạm tội trên là có căn cứ.

[2.2]. Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt:

[2.2.1]. Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, đánh bạc là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Do vậy phải xử phạt mức án tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.

[2.2.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[2.2.3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có bác ruột (ông Bùi T) là liệt sỹ, mẹ chồng (bà Võ Thị S) là người có công được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Do vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[2.2.4]. Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là phù hợp, nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội phấn đấu cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[2.2.5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo có 02 con nhỏ, đang nuôi dưỡng mẹ chồng là bà Võ Thị S nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 02 tờ giấy có ghi các số và chữ có ký xác nhận của Cù Thị Thúy D ở cuối tờ giấy là chứng cứ phạm tội nên lưu vào hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử không xét; đối với 01 cây bút bi bị cáo sử dụng để ghi số đề, đây là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, giá trị còn lại thấp nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 9.742.000đồng bị cáo dùng vào việc phạm tội đánh bạc và số tiền 2.019.000đồng bị cáo có được từ hành vi bán số lô, số đề nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 230.000 đồng và số tiền 11.531.000đồng, tổng cộng là 11.761.000đồng của Cù Thị Thúy D để đảm bảo thi hành án.

[4]. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi R và ông Trần Văn N: Số tiền ông R đánh bạc là 6.000 đồng, ông N là 30.000đồng, không cấu thành tội: “Đánh bạc” quy định tại điều 321 Bộ luật hình sự. Ngày 06/6/2024, ông R và ông N đã bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc là phù hợp quy định của pháp luật.

[5]. Nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7]. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Cù Thị Thúy D phạm tội: “Đánh bạc”;
  2. Xử phạt bị cáo Cù Thị Thúy D 45.000.000đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
  3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 cây bút bi màu xanh đã qua sử dụng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
    • - Buộc bị cáo Cù Thị Thúy D phải nộp số tiền 11.761.000đồng sung vào ngân sách nhà nước.

    Tiếp tục tạm giữ số tiền 11.761.000đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án (số tiền này đã nộp vào tài khoản số 39490.9042778 .00000 của Công an huyện T tại K huyện T vào các ngày 10/6/2024 và ngày 17/4/2024).

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND huyện Tư Nghĩa;
  • - Chi cục THADS huyện Tư Nghĩa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Công an huyện Tư Nghĩa;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Như Hòa ly hôn anh Phạm Ngọc Công
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger