TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày: 16-7-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Minh Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Hữu Luynh.
- Ông Dư Công Thử.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mỹ Dung; Thư ký Toà án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu, Kiểm sát viên.
Ngày 16/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/HSST ngày 17/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 05/7/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Lê M; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1996, tại Bình Định; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; Tạm trú tại: thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Phan Đức T, sinh năm: 1972 và con bà Lê Thị H, sinh năm: 1973, cả hai ở thôn L, xã Â, huyện H, Bình Định; Em ruột: Có 03 người, lớn sinh năm: 1998, nhỏ sinh năm: 2006. Bị cáo là con đầu trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cứ trú tại thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bị hại:
- Anh Tou Prong Ya T1, sinh năm 2002 (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại Tou Prong Y: Ông Ka L, sinh năm 1961; Hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Anh Ya T2, sinh năm 2002; Hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện hợp pháp của Ya T2: Chị Ma V, sinh năm 1994; Hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thành A; sinh năm 1972; Hộ khẩu thường trú: Số I, thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bà Chương Nhộc V1, sinh năm 1984; Hộ khẩu thường trú: Số B N, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Phan Văn T3, sinh năm 2001; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Anh Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1996; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 51 phút ngày 10/12/2023, Phan Lê M (đã có giấy phép lái xe hạng C), điều khiển xe ô tô tải BKS: 49C-056.36 chở theo Phan Văn T3 và Nguyễn Thanh T4 lưu thông trên đường ĐH12 hướng UBND xã Pró đi UBND xã Tu Tra, khi đi đến đoạn đường ngã ba giao nhau giữa đường ĐH12 và ĐH14 thuộc thôn K, xã K, huyện Đ thì M chuyển hướng rẻ trái vào đường ĐH14 (hướng vào UBND xã K) thì xảy ra va chạm với xe mô tô BS: 49F1-544.18 do T6 điều khiển chở theo Ya Thương lưu thông trên đường ĐH12 theo hướng ngược lại. Hậu quả: Tou Prong Ya Tranh chết tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L, Ya thương bị chấn thương sọ não, 02 (hai) phương tiện bị hư hỏng.
Đoạn đường nơi xảy ra tại nạn giao thông là đường ĐH 12 được trải nhựa, gần ngã ba giao nhau giữ đường ĐH 12 rẽ trái vào đường Đ. Đường ĐH 12 có chiều rộng mặt đường là 7,5m, không có vạch sơn ở giữa tim đường; đường ĐH 14 có chiều rộng mặt đường là 7,4m.
Tại kết luận giám định tử thi số 207/KLTTCT-PYLĐ ngày 26/12/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh L kết luận: Nguyên nhân chết của Tou Prong Y là đa chấn thương.
Tại kết luận giám định số 1616/KL-KTHS ngày 20/01/2024 của Phòng K công an tỉnh L kết luận:
+ Xe ô tô BS: 49C-056.36 lưu thông trên đường ĐH 12 rẽ trái vào đường Đ (hướng đi từ xã P vào giao lộ ĐH A - ĐH14 về hướng UBND xã K)
+ Xe mô tô BS: 49F1 - 54418 lưu thông trên đường Đ theo hướng xã T về hướng xã P.
+ Vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô tải BS: 49C-056.36 với xe mô tô BS: 49F1- 54418 trong giao lộ ĐH A - ĐH14 theo hướng lưu thông xã T về hướng xã P.
+ Không đủ cơ sở để xác định tốc độ của 02 phương tiện.
Tại kết luận giám định số 143/23-KLTTCT-PYLĐ ngày 12/3/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ya T2 tại thời điêm giám định là 73%. Tôn thương do va đập vào vật tày cứng.
Cáo trạng số 43/CT-VKSĐD ngày 17/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố bị can Phan Lê M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Lê M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phan Lê M mức án từ 15 đến 18 tháng tù.
Bị cáo Phan Lê M không khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 10/12/2023, bị cáo M điều khiển xe ô tô tải BKS: 49C-056.36 chở theo Phan Văn T3 và Nguyễn Thanh T4 lưu thông trên đường ĐH12 hướng UBND xã Pró đi UBND xã Tu Tra, khi đi đến đoạn đường ngã ba giao nhau giữa đường ĐH12 và ĐH14 thuộc thôn K, xã K, M chuyển hướng rẻ trái vào đường ĐH14 (hướng vào UBND xã K) thì xảy ra va chạm với xe mô tô do Tou P Ya Tranh điều khiển chở theo Ya Thương lưu thông trên đường ĐH12 theo hướng ngược lại. Hậu quả: Tou Prong Ya Tranh chết tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L, Ya thương bị chấn thương sọ não. Sau sự việc xảy ra, bị cáo cùng chủ xe đã thăm hỏi và bồi thường thiệt hại.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt.
Đại diện gia đình bị hại không có ý kiến gì về nội dung cáo trạng, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Vào ngày 10/12/2023, tại đường ĐH12 thuộc địa phân thôn K, xã K, huyện Đ, Phan Lê M đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải chuyển hướng không đảm bảo an toàn gây tai nạn giao thông, hậu quả làm Tou Prong Ya Tranh tử vong, Ya T2 bị thương tích là 73%. Hành vi của Phan Lê M đã vi phạm khoản 2 Điều 15 của Luật Giao thông đường bộ.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với Kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi điều khiển xe ô tô tải chuyển hướng không đảm bảo an toàn, gây tai nạn giao thông làm chết 01 người và 01 người bị thương với tỷ lệ thương tích 73% nêu trên của Phan Lê M đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Đánh giá tính chất vụ án: Xét tính chất, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo điều khiển xe ô tô tải chuyển hướng không đảm bảo an toàn gây tai nạn, hậu quả làm một người chết, một người bị thương tích 73%, lỗi hoàn toàn do bị cáo. Vì vậy cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình các bị hại; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; trước đây bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo.
[5] Về quyết định hình phạt: Xét tai nạn xảy ra lỗi hoàn toàn do bị cáo, bị cáo điều khiển xe đến ngã ba rẽ trái không đảm bảo an toàn, tình hình tai nạn giao thông xảy ra tại địa phương ngày càng tăng, nên cần phải có mức án nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, đồng thời nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.
[6] Về vật chứng:
- Đối với 01 xe ô tô BS: 49C– 056.3601; giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trả cho chủ sỡ hữu là bà Chương Nhộc V1. Sau khi nhận lại tài sản bà V1 không có yêu cầu, đề nghị gì nên không đề cập đến.
- Đối với 01 xe mô tô BS: 49 F1- 544.18, hiệu Raider, màu xanh đen; 01 giấy chứng nhận đang ký xe mô tô BS: 49 F1- 544.18, Cơ quan điều tra đã tách ra và chuyên cho đội cảnh sát giao thông công an huyện Đ để xem xét xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập đến.
- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Phan Lê Minh c tuyên trả lại cho M.
- Đối với 02 đĩa DVD, mỗi đĩa có dung lượng 4,7GB, bên trong đĩa ghi lại diễn biến trước và khi xảy ra vụ tai nạn giao thông ngày 10/12/2023 nên đưa vào hồ sơ vụ án.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra bị can và ông Nguyễn Thành A (người quản lý và sử dụng xe ô tô) đã liên đới bồi thường 85.000.000đ cho đại diện gia đình bị hại Tou Prong Y (bao gồm chi phí đám tang, xây mộ, tiền tổn thất tinh thần); bồi thường cho bị hại Ya Thương 100.000.000đ (bao gồm tiền chi phí điều trị thương tích, tiền công lao động, tiền tổn thất tinh thần). Sau khi nhận tiền bồi thường đại diện bị hại theo uỷ quyền ông Ka L và chị Ma V không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên không xem xét.
[8] Đối với hành vi khai báo gian dối của Phan Văn T3 xảy ra khi chưa khởi tố vụ án nên chưa đến mức phải xử lý hình sự, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là thoả đáng nên không đề cập đến.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phan Lê M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Lê M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về tang vật: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
T5 trả lại cho Phan Lê M 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Phan Lê M.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Phan Lê M phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Minh Dũng |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Lê M - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
