|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày 15 – 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Anh Ngọc.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hào và bà Phan Thị Nga.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Ông Luyện Văn Thông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Thị L, (Tên gọi khác: Không); giới tính: Nữ; sinh ngày 12 tháng 7 năm 1985 tại xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công T, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1956; có chồng Nguyễn Văn B (Đã chết) và có 01 con, sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/04/2022 bị Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc đã nộp ngày 05/04/2024. Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến 08/01/2024. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Trịnh Xuân V, (Tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 15 tháng 10 năm 1986 tại xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Xuân N, sinh năm 1952 và bà Vũ Thị X, sinh năm 1957; có vợ Nguyễn Thị K, sinh năm 1986 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến 08/01/2024. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Trịnh Xuân H (Tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 01 tháng 11 năm 1998 tại xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Xuân C (Đã chết) và bà Thái Thị P, sinh năm 1965; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến 08/01/2024. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Hoàng Văn T1, (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 20 tháng 01 năm 1991 tại xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn L2, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1970; có vợ Phạm Thị Ngọc H1, sinh năm 2001; và có 01 con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến 05/01/2024. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Nguyễn Văn T3, (Tên gọi khác: Không); giới tính N1; sinh ngày 20 tháng 9 năm 1989 tại xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B1 (Đã chết) và bà Hoàng Thị T4, sinh năm 1952; có vợ Cao Thị S, sinh năm 1995 và có 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến 08/01/2024. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Nguyễn Văn Q, (Tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 05 tháng 02 năm 1993 tại xã B, huyện Y tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L3 (Đã chết) bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1959; có vợ: Nguyễn Thị T5, sinh năm 1994 và có 01 con, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến 08/01/2024. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).
-Người làm chứng: Anh Nguyễn Danh T6, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Xóm F, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 58 phút ngày 01/01/2024, Phạm Thị L sử dụng điện thoại di động của mình có số thuê bao 0976.827.878 gọi đến số thuê bao 0394.789.976 của Trịnh Xuân V nói có nơi nào để đánh bạc hay không? Vững nói “để xem sao đã”. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Trịnh Xuân V sử dụng điện thoại di động của mình rồi đăng nhập tài khoản Messenger có tên “Thông Hiếu” gọi đến tài khoản M có tên “CU QUY HẾN” của Nguyễn Văn Q nói “mi ở nhà không cho choa lên xóc đĩa hồi” (Nghĩa là V hỏi Q có ở nhà không, cho V và một số người khác lên nhà Q đánh bạc) thì Q đồng ý. Sau đó, Trịnh Xuân V tiếp tục sử dụng tài khoản M nói trên gọi đến tài khoản M có tên “Rồi Cũng Qua” của Nguyễn Văn T3 rủ T3 đến nhà Q đánh bạc thì T3 đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 05 phút, cùng ngày, V sử dụng điện thoại của mình rồi gọi đến số thuê bao 0349.212.234 của Hoàng Văn T1 rủ T1 đến nhà Q đánh bạc, thì T1 đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, L gọi điện cho V để hỏi địa điểm đánh bạc, thì V nói với L lên nhà Q đánh bạc. Sau đó, Trịnh Xuân V, Trịnh Xuân H, Phạm Thị L đến nhà Nguyễn Văn Q để đánh bạc. Quá trình ngồi nói chuyện, V nói Q đi lấy 01 cái kéo, sau đó V đến kệ tủ ti vi nhà Q lấy 01 quân bài tú lơ khơ rồi cắt 04 quân vị hình tròn, có kích thước bằng nhau để làm công cụ đánh bạc. Một lúc sau, Hoàng Văn T1, Nguyễn Văn T3 cũng đến nhà Q. Đến khoảng 21 giờ 55 phút cùng ngày, V vay của Q 1.200.0000 đồng để đánh bạc. Đến khoảng 22 giờ 00 phút, V đến tủ gỗ phòng bếp nhà Q lấy 01 bộ bát, đĩa sứ màu trắng làm công cụ đánh bạc rồi vào phòng ngủ thứ ba của Q (H2 từ ngoài đi vào) rồi cùng với L, T1, H, T3 ngồi xuống chiếc chiếu nhựa màu xanh đỏ đã trải sẵn và đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa. Các đối tượng tham gia đánh bạc với hình thức đánh “xóc đĩa” như sau: sử dụng 01 chiếc bát sứ, 01 chiếc đĩa sứ và bốn quân vị (Xúc sắc) được cắt từ 01 quân bài tú lơ khơ (Một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng đen), hình tròn, làm công cụ đánh bạc. Người chơi gồm người cầm cái và người tham gia đặt cược. Bắt đầu đánh bạc người cầm cái sẽ bỏ 04 quân vị vào bát, đĩa và lắc đều rồi đặt lên chiếu, người tham gia đặt cược đặt cửa chẵn hoặc cửa lẻ. Tỷ lệ đặt cược từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Sau khi đặt cược xong, người cầm cái sẽ mở bát để xem kết quả. Nếu kết quả xuất hiện cửa mà người chơi đặt cược trước đó thì người chơi thắng và người cầm cái phải trả số tiền bằng số tiền cược mà người chơi đã đặt và ngược lại. V là người cầm cái đầu tiên, trong quá trình đánh bạc thì các đối tượng lần lượt thay nhau cầm cái. Trước khi đánh bạc, các đối tượng Vững, L, H, T1 thống nhất góp mỗi người 50.000 đồng, tổng cộng đã góp 200.000 đồng để đưa cho Nguyễn Văn Q, Q đã nhận số tiền này. Các đối tượng trên đánh bạc với nhau đến 23 giờ 10 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang.
* Vật chứng thu giữ:
- - Số tiền thu giữ trên chiếu bạc là: 7.300.000 đồng (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng).
- - Số tiền thu giữ trong người các đối tượng gồm: thu của Nguyễn Văn T3 450.000 đồng, thu của Phạm Thị L 5.900.000 đồng, thu của Nguyễn Văn Q 200.000 đồng.
- - Thu giữ 01 bộ bát đĩa sứ màu trắng đã qua sử dụng; 04 quân vị hình tròn, có đặc điểm giống nhau, mỗi quân vị đều có 02 mặt, 01 mặt màu đỏ, 01 mặt màu trắng đen; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh đỏ; 01 chiếc kéo có phần tay cầm màu vàng, đều đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu vàng có gắn số thuê bao 0941.758.734, đã qua sử dụng của Trịnh Xuân H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, có gắn số thuê bao 0349.212.234, đã qua sử dụng của Hoàng Văn T1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen có gắn số thuê bao 0394.789.976, đã qua sử dụng của Trịnh Xuân V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno8 T-5G có gắn số thuê bao 0976.827.878, đã qua sử dụng của Phạm Thị L. (Vật chứng bị thu giữ hiện nay đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành chờ xử lý theo quy định pháp luật).
Quá trình xác minh, làm rõ cơ quan điều tra đã chứng minh được trong quá trình đánh bạc các đối tượng đã sử dụng số tiền vào mục đích đánh bạc như sau: Phạm Thị L 6.000.000 đồng; Trịnh Xuân H 3.000.000 đồng; Trịnh Xuân V 2.000.000 đồng; Hoàng Văn T1 2.000.000 đồng; Nguyễn Văn T3 850.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 13.850.000đ (Mười ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Kết luận giám định số: 29/KL-KTHS(Đ3-TL), ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: Số tiền thu giữ của các đối tượng đánh bạc gửi đến giám định là tiền thật. (Số tiền này đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành mở tại K nhà nước huyện Y, tỉnh Nghệ An chờ xử lý theo quy định pháp luật)
Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKS-YT ngày 07 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã truy tố Phạm Thị L, Trịnh Xuân V, Trịnh Xuân H, Hoàng Văn T1, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn Q về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- +/ Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Thị L từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng đến 24 tháng.
- - Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân V từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng đến 18 tháng.
- - Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân H từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng đến 18 tháng.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 06 tháng tù đến 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 14 tháng.
- Giao các bị cáo được hưởng án treo cho UBND xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục đối với các bị cáo.
- +/ Căn khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T1 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội Đánh bạc.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật hình sự.
- -Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T3 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng về tội Đánh bạc.
Do điều kiện kinh tế của các bị cáo khó khăn, thu nhập không ổn định, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo được hưởng án treo. Các bị cáo còn lại đã đề nghị xử phạt tiền là hình phạt chính nên đề nghị không xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo được đề nghị xử phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị :
- - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng vụ án gồm: 01 (Một) chiếc đĩa sứ màu trắng; 01 (Một) chiếc bát sứ màu trắng; 04 quân vị hình tròn có đặc điểm giống nhau, một mặt màu đỏ, 01 mặt màu trắng đen; 01 (Một) chiếc chiếu nhựa màu xanh đỏ đã qua sử dụng; 01 chiếc kéo phần tay cầm màu vàng, đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 13.850.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
- - Tịch thu hóa giá, sung vào Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng có gắn số thuê bao 0941.758.734 đã qua sử dụng của Trịnh Xuân H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen có gắn số thuê bao 0349.212.234 đã qua sử dụng của Hoàng Văn T1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 8 Plus, màu đen có gắn số thuê bao 0394.789.976 đã qua sử dụng của Trịnh Xuân V; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8 T-5G, có gắn số thuê bao 0976.827.878 đã qua sử dụng của Phạm Thị L;
- - Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận, đối đáp gì với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát, các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét điều kiện hoàn cảnh gia đình và nhân thân của các bị cáo xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ buộc tội đối với các bị cáo: Vào khoảng 23 giờ 15 phút ngày 01/01/2024 khi Phạm Thị L, Trịnh Xuân V, Trịnh Xuân H, Hoàng Văn T1, Nguyễn Văn T3 đang đánh bạc với nhau theo hình thức “xóc đĩa”, thắng thua bằng tiền với nhau tại nhà ở của Nguyễn Văn Q, xóm H, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An thì bị Công an huyện Y ập vào bắt quả tang, đã thu giữ tại chiếu bạc số tiền 7.300.000 đồng (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng), thu trong người của Nguyễn Văn T3 450.000 đồng, thu của Phạm Thị L 5.900.000 đồng, thu của Nguyễn Văn Q 200.000 đồng. Tổng số tiền bị thu giữ là 13.850.000 đồng, quá trình điều tra đã làm rõ số tiền mỗi bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là Phạm Thị L 6.000.000 đồng; Trịnh Xuân H 3.000.000 đồng; Trịnh Xuân V 2.000.000 đồng; Hoàng Văn T1 2.000.000 đồng; Nguyễn Văn T3 850.000 đồng; Nguyễn Văn Q không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng là chủ nhà cho phép các đối tượng đánh bạc tại nhà đã được các con bạc trả tiền chiếu số tiền 200.000 đồng. Hành vi của Phạm Thị L, Trịnh Xuân V, Trịnh Xuân H, Hoàng Văn T1, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo qui định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất vụ án và hành vi phạm tội: Đây là một vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, các bị cáo đã đồng phạm với nhau về tội đánh bạc, nhưng đồng phạm là giản đơn, mang tính bột phát. Xét hành vi đánh bạc do các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình cho quần chúng nhân dân. Các bị cáo đều nhận thức được đánh bạc bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện, đánh bạc còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác đã gây ảnh hưởng lớn đến đời sống, vật chất tinh thần của những gia đình có người thân có người đánh bạc. Do đó cần xử lý nghiêm đối với các bị cáo với hình phạt tương xứng để giáo dục các bị cáo và phong ngừa tội phạm. Vụ án có 06 bị cáo tham gia đánh bạc với nhau, mức độ tham gia đánh bạc, số tiền sử dụng vào việc đánh bạc ở các bị cáo khác nhau, nên cần phân hóa để xử lý cho phù hợp.
[4] Đối với Phạm Thị L là người khởi xướng việc đánh bạc, quá trình đánh bạc, bị cáo L đã tham gia đánh bạc rất tích cực, đã sử dụng số tiền nhiều nhất trong các bị cáo khác, nhân thân bị cáo không tốt, đã bị xử phạt hành chính vào năm 2022. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các đồng phạm khác trong vụ án. Với hành vi phạm tội và nhân thân không tốt của bị cáo, lẽ ra phạt tù giam đối với bị cáo là đúng. Tuy nhiên xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo lần đầu phạm tội, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình. Xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo chồng vừa mới mất, hiện nay là lao động duy nhất, bản thân đang nuôi con ăn học là những tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng theo qui định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng nguyên tắc nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, chưa cần thiết xử phạt tù giam đối với vị cáo, mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS, xử cho bị cáo được hưởng án treo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
[5] Đối với Trịnh Xuân H, Trịnh Xuân V, Nguyễn Văn Q: Bị cáo V, bị cáo H là những bị cáo tham gia đánh bạc cũng rất tích cực bị cáo H đã có lần cầm cái, điều khiển các ván bạc, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nhiều thứ hai vụ án. Bị cáo Q tuy không đánh bạc nhưng đã được các bị cáo trả tiền chiếu, tiền nhà đã tạo điều kiện cho các bị cáo đánh bạc tại nhà mình. Do đó cũng cần xử phạt nghiêm với hình phạt tương xứng để giáo dục đối các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật, qua đó lấy đó làm bài học kinh nghiệm về sau. Xét thấy quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo rất thành khẩn khai báo tỏ thái độ ăn năn hối lỗi, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân lai lịch các bị cáo trong sáng rõ ràng. Do các bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên không cần thiết phạt tù giam đối với các bị cáo, mà cần áp dụng nguyên tắc nhân đạo, khoan hồng của pháp luật và qui định tại khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự để xử cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
[6] Đối với Nguyễn Văn T3 với Hoàng Văn T1 tham gia đánh bạc rất tích cực, sau bị cáo V thì bị cáo T1 cũng là người cầm cái để điều khiển các ván bạc tiếp theo, số tiền bị cáo T1 sử dụng vào việc đánh bạc nằm ở nhóm thứ hai, số tiền bị cáo T3 đánh bạc không nhiều nằm nhóm cuối cùng trong vụ án. Do mức độ nguy hiểm do hành vi các bị cáo gây ra không cao, lí lịch nhân thân trong sáng rõ ràng, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra truy tố bị cáo rất thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông nội của bị cáo T1 đã có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến để bảo vệ tổ quốc. Do bị cáo T1 được hưởng những tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS; bị cáo T3 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 BLHS, nên không cần áp dụng hình phạt tù đối với hai bị cáo, mà áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo là đủ nghiêm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do điều kiện hoàn cảnh gia đình của các bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Xử lý vật chứng:
- Đối với: 01 (Một) bộ bát đĩa sứ màu trắng, đều đã qua sử dụng; 04 (Bốn) quân vị hình tròn, có đặc điểm giống nhau, mỗi quân vị đều có hai mặt, một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếc chiếu nhựa màu xanh đỏ, đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếc kéo có phần tay cầm màu vàng, đã qua sử dụng là những vật chứng của vụ án mà các bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 13.850.000 đ (Mười ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền các đối tượng đã sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu sung nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- - Đối với những chiếc điện thoại di động thu của bị cáo Phạm Thị L, Trịnh Xuân V, Hoàng Văn T1, Trịnh Xuân H là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà Nước.
[9] Án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị L 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 15/5/2024).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Trịnh Xuân V 07 (Bảy) tháng tù về tội: “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 15/5/2024).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Trịnh Xuân H 07 (Bảy) tháng tù về tội: “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 15/5/2024).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 06 (Sáu) tháng tù về tội: “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 15/5/2024).
Giao các bị cáo Phạm Thị L, Trịnh Xuân V, Trịnh Xuân H, Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 điều 92 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật hình sự:
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T1 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc” để sung Ngân sách Nhà Nước.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và điều 35 của Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T3 20.000.0000đ (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc” để sung ngân sách Nhà Nước.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bát đĩa sứ màu trắng, đều đã qua sử dụng; 04 (Bốn) quân vị hình tròn, có đặc điểm giống nhau, mỗi quân vị đều có hai mặt, một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếc chiếu nhựa màu xanh đỏ, đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếc kéo có phần tay cầm màu vàng, đã qua sử dụng.
- - Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước:
- + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng, số IMEI 359481983805135, bên trong gắn sim có số thuê bao 0941758734 điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Trịnh Xuân H;
- + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, số IMEI 359403087921477, bên trong gắn sim có số thuê bao SIM 0349212234 điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Văn T1;
- + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 8 Plus màu đen, số IMEI 354832098942939, bên trong gắn sim có số thuê bao 0394789976, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của của Trịnh Xuân V;
- + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8 T-5G, gắn sim số thuê bao 0976827878, số IMEI 1: 863375062020856, số IMEI 2: 86337506202849, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Thị L.
- Vật chứng nêu trên đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/5/2024.
- - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: Số tiền 13.850.000 đ (Mười ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An nộp vào tài khoản số 39490104774600000 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An mở tại Kho Bạc nhà nước huyện Y, tỉnh Nghệ An, theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 14/5/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Buộc: Các bị cáo Phạm Thị L, Trịnh Xuân V, Trịnh Xuân H, Hoàng Văn T1, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Anh Ngọc |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị L cùng đồng phạm đánh bạc
