Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 15/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Hương

2. Bà Trần Thị Chín

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thế Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 và 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/ QĐXXST – HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đình Đ, sinh năm 1992, tại tỉnh Bình Phước

Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước; CCCD số: [...] cấp ngày 28/6/2021. Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình K và bà Lê Thị N; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/02/2024 đến ngày 08/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1993. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn F, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 02/2024, Lê Đình Đ dùng điện thoại di động có số thuê bao 0378.875.678 gọi cho N1 (không rõ nhân thân, lý lịch) có số sim 0869.758.715 trao đổi về việc mua pháo hoa nổ về sử dụng. Sang ngày hôm sau, một người đàn ông (không rõ nhân thân, lý lịch) sử dụng số thuê bao 0812.954.112 gọi điện vào số 0378.875.678 của Đ liên hệ trao đổi mua bán pháo hoa nổ. Sau đó, vào ngày 05/02/2024, Đ dùng điện thoại số 0378.875.xxx gọi điện đến số 0812.954.112 cho người đàn ông thỏa thuận mua 10 hộp pháo hoa nổ với giá 7.500.000 đồng điểm mua bán tại vườn cao su gần C ty “N" thuộc thôn D, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô biển số: 93L1–342.16 (mượn của anh Nguyễn Văn V) đến điểm hẹn. Khi đến nơi, Đ trả trước cho người đàn ông 6.000.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng sẽ chuyển khoản sau, người đàn ông giao 01 thùng giấy Carton bên trong có 10 hộp pháo hoa nổ cho Đ, rồi Đ buộc thùng C lên phía sau yên xe mô tô biển số: 93L1–342.16 chở về nhà. Khi đến khu vực gần “ngã ba N" thuộc thôn D, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước thì bị Cơ quan CSĐT – Công an huyện B phối hợp với Công an xã M dừng xe kiểm tra, lập biên bản bắt quả tang người, niêm phong tang vật, đồng thời tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 01 xe mô tô biển số: 93L1–342.16.

Tại Kết luận giám định số: 222/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận: 10 (mười) khối hình hộp (ký hiệu là M có chữ ký của Đ) được niêm phong gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ); có chứa thuốc pháo, khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu sắc. Tổng khối lượng là 15,80kg.

Tại bản Cáo trạng số: 45/CT –VKS.BĐ ngày 12/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Lê Đình Đ về “Tội vận chuyển hàng cấm” theo điểm c Khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng giữ nguyên nội dung quyết định đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị tuyên bố bị cáo Lê Đình Đồng phạm “Tội vận chuyển hàng cấm” qui định tại điểm c Khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự; về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 191; Điều 38; các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Đình Đ từ 06 đến 09 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone loại cảm ứng, màu vàng; đề nghị tịch thu tiêu huỷ số pháo hoa nổ còn lại sau giám định chuyển; đối với xe mô tô nhãn hiệu SIRIUS, màu đen; biển kiểm soát: 93L1–342.16 quá trình điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn V nên không đề cập xử lý.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, nhưng cho rằng hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là nặng, vì bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; trình độ học vấn thấp, nhận thức được việc mua pháo hoa nổ để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng chưa nhận thức được hậu quả là phạm tội hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để tự lao động, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào ngày 05/02/2024, Lê Đình Đ dùng điện thoại di động có số thuê bao 0378.875.678 gọi cho người đàn ông (không rõ nhân thân, lý lịch) có số sim 0869.758.715 tại huyện B, tỉnh Bình Phước thoả thuận mua 10 hộp pháo hoa nổ với giá 7.500.000đồng để về cất giấu, sử dụng nổ trong dịp Tết Nguyên đán 2024, trên đường vận chuyển số pháo nói trên về nhà thì bị Cơ quan Công an huyện B phối hợp Công an xã M bắt quả tang.

    Theo Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận 10 (mười) hộp pháo bị cáo Đ vận chuyển có tổng khối lượng là 15,80kg. Toàn bộ số pháo bị cáo vận chuyển có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu.

    Bị cáo khai mua pháo vận chuyển về nhà mục đích cất dấu để sử dụng vào dịp Tết Nguyên đán 2024; Tuy nhiên, việc cất dấu pháo để sử dụng là lời khai của bị cáo, chưa xảy ra trên thực tế, nên hành vi của bị cáo Lê Đình Đồng phạm vào “Tội vận chuyển hàng cấm” qui định tại điểm c Khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.Điều 191. Tội tàng trữ hàng cấm, quy định:

    “1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

    c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam.

    Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Khi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ pháo nổ là loại hàng hóa bị Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ và sử dụng, nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế (tàng trữ mặt hàng pháp luật cấm), làm ảnh hưởng đến sự bình thường của hoạt động quản lý Nhà nước về pháo và sử dụng pháo, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.

  3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt, là lao động thuần nông và làm thuê, học vấn thấp, chưa nhận thức hết được hậu quả pháp lý của hành vi mua và vận chuyển pháo hoa là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng thấy cần xử bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự là phù hợp.

  5. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định; khối lượng hàng cấm bị cáo vận chuyển không lớn, mục đích vận chuyển để cất dấu sử dụng không hưởng lợi ích vật chất, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  6. Về vật chứng vụ án:
    • + Xe mô tô nhãn hiệu SIRIUS, màu đen; biển kiểm soát: 93L1–342.16; số khung: HY058859, số máy: E3X9E-151460 bị cáo mượn của anh Nguyễn Văn V là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, nhưng anh V không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội; quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho anh V là phù hợp.
    • + 01 điện thoại di động Iphone, loại cảm ứng, màu vàng bị cáo sử dụng liên lạc để mua pháo nổ, là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
    • + Số pháo hoa nổ còn lại sau giám định là 4,75kg đựng trong 01 thùng niêm phong có chữ ký của Nguyễn Thiện DNguyễn Văn H đóng dấu mộc đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B không có nguồn gốc xuất xứ, là hàng hoá Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.
  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  8. Các vấn đề khác:
    • + Đối với đối tượng liên hệ và bán pháo hoa nổ cho bị cáo Đ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch. Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an huyện B tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau, nên không xem xét.
    • + Đối với anh Nguyễn Văn V cho Đ mượn xe, nhưng không biết Đ sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội, không có căn cứ xử lý. Cơ quan CSĐT – Công an huyện B và Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng không đề cập, nên không xem xét.

    Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, mức hình phạt là có căn cứ pháp luật; Tuy nhiên, đề nghị không cho bị cáo hưởng án treo là có phần nghiêm khắc và chưa phù hợp với tinh thần hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, nên không chấp nhận.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Đình Đồng phạm “Tội vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 191; Điều các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình Đ 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng, kể từ ngày tuyên án (16/5/2024).

    Giao bị cáo Lê Đình Đ về Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Khoản 1 Điều 47; Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
    • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng.
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 thùng niêm phong có chữ ký của Nguyễn Thiện DNguyễn Văn H đóng dấu mộc đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B.

    (Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010147 ngày 14/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng).

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Lê Đình Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tông đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hs.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Văn Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tội vận chuyển hàng cấm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội vận chuyển hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Đình Đồng phạm tôi tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger