|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày: 11/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Lê Lân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Thanh Long.
Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Cu T; tên gọi khác: không; Giới tính: nam; Sinh ngày: 11/11/1988 tại P, Bình Định; Nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Hồ Văn C, sinh năm: 1965 và bà Trần Thị T1, sinh năm: 1965; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 23/11/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 67/2009/HS-ST ngày 23/11/2009. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/4/2010, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện P cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
Chị Trần Thị S, sinh năm: 1980; (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện P, Bình Định.
* Người làm chứng:
- Lê Trần Hà M, sinh ngày: 20/5/2013; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện P, Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Cu T là hàng xóm với nhà vợ chồng chị Trần Thị S (sinh năm 1980) và anh Lê Văn T2 (sinh năm 1974) ở cùng thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. T thường đi làm chung và đến nhà chơi, ăn nhậu với anh T2 nên biết vợ chồng anh T2 – chị S mới thu hoạch, bán đậu phộng xong và cất tiền trong nhà. Đầu giờ chiều ngày 18/4/2024, T đi dự cúng thanh minh trong xóm không thấy anh T2 nên đoán anh T2 đang đi làm, không có nhà do đó T đã nảy sinh ý định đến nhà vợ chồng chị S để lấy trộm tiền tiêu xài cá nhân. T điều khiển xe mô tô đi ngang qua nhà chị S quan sát thấy không có người ở nhà, cửa bên hông nhà khép hờ rồi điều khiển xe mô tô đi tiếp đến cửa hàng xăng dầu ở gần chợ A, xã C, huyện P đổ xăng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T điều khiển xe quay lại dựng xe ở sân trước nhà chị S, thấy bên trong nhà không có người nên T đã lén lút dùng tay mở cửa bên hông vào trong nhà đi đến tủ quần áo trong phòng ngủ; T đưa tay sờ trên đầu tủ thấy có chìa khóa nên lấy mở tủ tìm kiếm và phát hiện trong túi áo khoác màu hồng của chị S treo trong tủ có một xấp tiền buộc dây thun gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 200.000 đồng; T cầm bọc tiền đi ra cửa, vừa đi vừa nhét vào túi quần sau thì bị cháu Lê Trần Hà M (sinh năm: 2013, con gái chị S) phát hiện nên T vội điều khiển xe mô tô bỏ đi đến cửa hàng X ở thôn V, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định gửi xe ở đây và đón xe khách vào TP. Trên xe, Tư đếm được số tiền lấy trộm được từ nhà chị S là 50.000.000 đồng và sử dụng tiêu xài cá nhân tại TP. Do không có ai thân quen nên khoảng 05 ngày sau T quay lại huyện P nhưng không về nhà mà lẩn trốn tại khu vực xã C, huyện P. Đến ngày 08/5/2024, được gia đình vận động và cảm thấy ăn ăn, hối cải nên T đến Công an huyện P đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp số tiền 14.900.000 đồng chưa tiêu xài hết.
* Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tạm giữ và xử lý trả lại số tiền 14.900.000 đồng cho bị hại – Trần Thị S.
* Về dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục một phần hậu quả trả lại cho bị hại số tiền 10.100.000 đồng. Bị hại đã nhận lại được tổng cộng 25.000.000 đồng và tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 25.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 38/CT-VKSPC, ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Hồ Cu T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hồ Cu T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của BLHS năm 2015 và không có thay đổi bổ sung gì thêm.
Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Hồ Cu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS năm 2015 để xử phạt bị cáo Hồ Cu T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/5/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 48 BLHS buộc bị cáo trả lại cho bị hại – Trần Thị S 25.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Không.
Tại phiên tòa, trong phần tự bào chữa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Tại phần tranh luận bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo Hồ Cu T thực sự ăn năn, hối cải, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1]. Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người làm chứng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đảm bảo, các nguyên tắc trong tố tụng hình sự được tôn trọng và thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật hình sự.
[2]. Xét nội dung của vụ án và hành vi của bị cáo thực hiện, tính chất nguy hiểm của hành vi, HĐXX thấy rằng:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi diễn biến của vụ án như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo trước Tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:
Vì mục đích cần tiền tiêu xài cá nhân, lợi dụng lúc gia đình chị Trần Thị S ở cùng thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định đi vắng, không có nhà và có nhiều sơ hở, Hồ Cu T đã lén lút đột nhập vào nhà chị S lấy trộm số tiền 50.000.000 đồng vào khoảng 14 giờ ngày 18/4/2024.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự.
Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp: “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, HĐXX xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Hồ Cu T về tội: “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng:
Bị cáo Hồ Cu T là người có đặc điểm nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản, tuy đã được xóa án tích nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Với bản chất chây lười lao động và muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác với giá trị tài sản lớn là 50.000.000 đồng. Do đó cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe phòng ngừa chung, góp phần ổn định tình hình an ninh ở địa phương. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả trả lại một phần tiền đã chiếm đoạt cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã được gia đình vận động ra đầu thú và tự nguyện giao nộp một phần tiền đã trộm cắp chưa tiêu xài hết nên HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Tuy nhiên, HĐXX xét thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo chưa được tốt, tài sản chiếm đọat chưa bồi thường xong do đó cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra.
Trong vụ án, ban đầu người bị hại Trần Thị S khai báo ngoài mất số tiền 50.000.000 đồng còn bị mất 02 chiếc nhẫn vàng cũng để trong tủ quần áo. Tuy nhiên, sau đó chị S đã tìm thấy 02 chiếc nhẫn trên nên đã đính chính báo cáo lại không có sự việc mất 02 chiếc nhẫn vàng này.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp với nhận định trên nên được HĐXX chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:
[4.1]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tổng cộng 25.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 25.000.000 đồng. Yêu cầu của chị S là có căn cứ pháp luật nên HĐXX chấp nhận; buộc bị cáo phải có nghĩa vụ trả lại cho chị Trần Thị S 25.000.000 đồng.
[4.2]. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã xử lý trả lại 25.000.000 đồng cho bị hại theo đúng quy định nên HĐXX không xem xét.
[5]. Về án phí: Căn cứ theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Hồ Cu T phải chịu án phí HSST sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 584; Điều 585; Điều 586 của Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Hồ Cu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Hồ Cu T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/5/2024.
Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
3.1. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Cu T phải có nghĩa vụ trả lại cho chị Trần Thị S 25.000.000 đồng. (hai mươi lăm triệu đồng)
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành chưa đầy đủ số tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự (10%/năm) tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3.2. Xử lý vật chứng: Không.
Về án phí: Bị cáo Hồ Cu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Lê Lân |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HỒ CU T - TRỘM CẮP TÀI SẢN
