|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày 11-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thành Hiệp
Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Vũ – Kiểm sát viên.
Ngày 11 Tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Thanh M, sinh ngày 23-6-2001 tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; CCCD số [...]; đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nơi ở hiện tại: Số nhà D, Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thanh H, sinh năm 1974, còn sống và bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1973, còn sống; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam K4, tỉnh Kiên Giang theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 21-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và Quyết định thi hành án phạt tù số 216/2023/QĐ-CA ngày 06-11-2023 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (02 năm 03 tháng tù kể từ ngày 21-6-2023) (có mặt).
- Bị hại:
- 1/ Anh Nguyễn Nhật Q, sinh ngày 16-7-2006 (có mặt)
- Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- 2/ Anh Trần Ngọc H1, sinh ngày 11-8-2006 (có mặt)
- Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- 3/ Anh Từ Hữu L, sinh ngày 27-02-2006 (có mặt)
- Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- 4/ Ông Lê Thanh N, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- 1/ Bà Nguyễn Diệp Hạnh H2, sinh năm 1985 (người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Nhật Q) (có mặt)
- Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- 2/ Bà Trần Thị L1, sinh năm 1979 (người đại diện hợp pháp của anh Trần Ngọc H1) (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- 3/ Ông Từ Văn T1, sinh năm 1967 (người đại diện hợp pháp của anh Từ Hữu L) (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- 1/ Anh Trần Hồng Trấn V, sinh ngày 06-01-2008 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 2/ Anh Đặng Trọng P, sinh ngày 11-10-2008 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Tổ 3, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 3/ Anh Lê Quang T2, sinh ngày 14-11-2008 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Số nhà B, Trần Hưng Đ, Tổ A, Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 4/ Anh Nguyễn Gia B, sinh ngày 29-12-2008 (có mặt)
- Nơi cư trú: Số nhà A, Tổ G, Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 5/ Anh Võ Văn L2, sinh ngày 16-9-2007 (có mặt)
- Nơi cư trú: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 6/ Anh Huỳnh Nam K (Minh K1), sinh ngày 02-7-2009 (vắng mặt)
- HKTT: khóm T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.
- Hiện đang bị tạm giam tại Trại Giam Công an tỉnh A.
- 7/ Anh Huỳnh Công Hữu H3 (Chí H4), sinh ngày 18-12-2007 (vắng mặt)
- HKTT: khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.
- Hiện đang bị tạm giam tại Trại Giam Công an tỉnh A.
- 8/ Anh Hồ Minh D, sinh ngày 15-10-2006 (có mặt)
- Nơi cư trú: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 9/ Anh Trần Văn N1, sinh ngày 05-3-2008 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 10/ Bà Đặng Thị H5, sinh ngày 07-5-1968 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Tổ 3, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 11/ Ông Đỗ Thanh H, sinh năm 1974 (có mặt)
- Nơi cư trú: Số nhà D, Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- 1/ Ông Trần Hùng C, sinh năm 1978 (người đại diện hợp pháp của anh Trần Hồng Trấn V) (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 2/ Bà Đặng Thị N2, sinh năm 1995 (người đại diện hợp pháp của anh Đặng Trọng P) (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Tổ C, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 3/ Ông Lê Quang H6, sinh năm 1987 (người đại diện hợp pháp của anh Lê Quang T2) (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Số nhà B, Trần Hưng Đ, Tổ A, Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 4/ Bà Phù Thị Cúc H7, sinh ngày 04-02-1986 (người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Gia B) (có mặt)
- Nơi cư trú: Số nhà A, Tổ G, Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 5/ Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1968 (người đại diện hợp pháp của anh Võ Văn L2) (có mặt)
- Nơi cư trú: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 6/ Bà Đỗ Thị Mỹ T4, sinh năm 1984 (người đại diện hợp pháp của anh Huỳnh Nam K (M)) (vắng mặt)
- Nơi cư trú: khóm T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.
- 7/ Ông Huỳnh Công Cường E, sinh năm 1985 (người đại diện hợp pháp của anh Huỳnh Công Hữu H3 (C)) (vắng mặt)
- Nơi cư trú: khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.
- 8/ Ông Hồ Văn H8, sinh năm 1973 (người đại diện hợp pháp của anh Hồ Minh D) (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- 9/ Bà Trần Thị Ngọc N3, sinh năm 1991 (người đại diện hợp pháp của anh Trần Văn N1) (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đặng Trọng P, anh Huỳnh Công Hữu H9: Bà Văng Thị V1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A. (có mặt)
Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn L2, anh Trần Văn N1: Ông Lương Minh H10 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A. (có mặt)
Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Quang T2, anh Nguyễn Gia B: Ông Hà Quang V2 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A. (có mặt)
Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Hồng Trấn V, anh Huỳnh Nam K: Bà Phạm Thanh Ái D1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A. (có mặt)
Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng: Anh Lê Văn K2, anh Nguyễn Hoàng L3 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ mâu thuẫn trước đó giữa Trần Hồng T5 V với Nguyễn Hoàng L3. khoảng 11 giờ ngày 19-3-2023, Trần Hồng T5 V rủ Đỗ Thanh M, Võ Văn L2, Đặng Trọng P, Hồ Minh D, Nguyễn Gia B, Lê Quang T2, Trần Văn N1, Nguyễn Chung H11, Dương Quốc T6, Huỳnh Nam K, Huỳnh Công Hữu H9, Duy K3, Duy P1 và 10 đối tượng khác chưa xác định được họ tên và địa chỉ; lên huyện C tìm nhóm Hoàng L3 chém thì tất cả đồng ý. Chung H11 điều khiển xe mô tô biển số 67C1 – 649.21 chở Trấn V cầm dao cánh buồm, Hữu H9 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở K cầm 02 cây dao mèo, B điều khiển xe mô tô biển số 67B1 – 163.50 chở T2 cầm dao cánh buồm, D điều khiển xe mô tô biển số 67B2 – 820.93 chở N1 cầm dao mèo, P điều khiển xe mô tô biển số 67B2 – 790.58 chở L2 cầm dao cá mập trắng, Duy K3 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở T6 cầm dao tự chế, 01 người nam không rõ họ tên, địa chỉ điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở M cầm dao 07 lỗ và những đối tượng không rõ họ tên, địa chỉ chở nhau cầm theo hung khí đi lên huyện C tìm nhóm Hoàng L3 chém. Riêng xe mô tô D chở N1 trên đường đi hết xăng nên quay lại và không tham gia.
Khoảng 12 giờ cùng ngày, Khi đến quán café bảng hiệu “KITTY” của Lê Thanh N tại khu dân cư thị trấn A thuộc khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang thì Trấn V thấy Từ Hữu L, Trần Ngọc H1, Nguyễn Nhật Q, Lê Văn K2 đang ngồi uống nước trong quán nên Trấn V chỉ vào quán nói lớn “nó kìa” thì cả nhóm nghe và dừng xe lại. Lúc này Trấn V, M, L2, T2, K cầm hung khí và những người ngồi sau cầm hung khí chạy vào quán chém nhiều cái trúng vai trái, tay trái, tay phải của Q; chém trúng tay phải của H1; chém trúng tay trái của L gây thương tích và chém làm hư hỏng 08 mặt bàn bằng gạch men, 04 ly thủy tinh, 01 bình trà inox trong quán café của Lê Thanh N. Sau đó cả nhóm lên xe tẩu thoát về thành phố L. Anh Q, anh H1 được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đ1 đến ngày 20-3-2023, anh H1 xuất viện; ngày 28-3-2023 anh Q xuất viện. Ông N đến công an thị trấn A trình báo.
Vật chứng liên quan đến vụ án:
- - 01 xe mô tô biển số 67B2 – 820.93 do Hồ Minh D giao nộp.
- - 01 xe mô tô biển số 67B2 – 790.58 do Đặng Trọng P giao nộp.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 354/23/KLTTCT-TTPY ngày 01-6-2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận đối với Nguyễn Nhật Q. 1. Các kết quả chính: Sẹo ba vai trái kích thước (07 x 0,7)cm, nằm xiên, sẹo lồi, hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn, có khâu. Gây đứt cơ trên gai, đã phẫu thuật khâu cơ đứt; tỷ lệ là 03%. Sẹo mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải kích thước (3,2 x 0,3)cm, nằm ngang, sẹo hơi lồi, hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn, có khâu. (sẹo mô đứng dọc kích thước (1,2 x 0,1)cm. Gây gãy dạng đứt vỡ xương bả sau 1/3 trên xương trụ phải tương ứng với sẹo bên ngoài, đứt cơ dưới vai, gãy cơ nắp trên bên phải, đã phẫu thuật khâu nối gân cơ đứt. Hiện tại không ảnh hưởng chức năng vận động; tỷ lệ là 06%. Sẹo mặt lưng đốt 1, ngón II bàn tay phải kích thước (2,5 x 0,1)cm, nằm xiên, bờ sắc gọn, hồng, phẳng, (sẹo mô đầu trên kích thước (0,1 x 0,1)cm. Gây đứt gân duỗi ngón II bàn tay phải, đã phẫu thuật khâu nối gân duỗi; tỷ lệ là 02%. Sẹo mặt lưng đốt 1 ngón III bàn tay phải kích thước (2,5 x 0,1)cm. Gây đứt gân duỗi ngón III bàn tay phải, đã phẫu thuật khâu nối gân duỗi; tỷ lệ là 01%. Sẹo mặt lưng liên đốt 1, 2 ngón IV bàn tay phải kích thước (1,5 x 0,1)cm; tỷ lệ là 01%. Sẹo mặt trước ngoài vòng ra sau 1/3 dưới cẳng tay trái kích thước (10,5 x 0,4)cm, hình vòng cung, sẹo lồi, hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn, có khâu. Gây đứt một phần cơ tam đầu, đã phẫu thuật khâu gân cơ đứt; tỷ lệ là 02%. Sẹo mặt sau khuỷu tay trái kích thước (6,5 x 0,5)cm, hình vòng cung, sẹo lồi, hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn, có khâu. Gãy rách bao khớp khuỷu tay trái, đã phẫu thuật khâu bao rách; tỷ lệ là 02%. Sẹo mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái kích thước (3,5 x 0,4) cm, nằm ngang, hồng, sẹo lồi, bờ sắc gọn, hai góc nhọn, có khâu. (sẹo mô đầu dưới kích thước (0,2 x 0,2) cm. Gây đứt điểm bám gân cơ duỗi chung các ngón, gân cơ duỗi cổ tay trụ, đã phẫu thuật khâu lại gân cơ đứt. Hiện tại không ảnh hưởng chức năng vận động; tỷ lệ là 03%. 2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Nhật Q tại thời điểm giám định là 18%. Kết luận khác: Cơ chế hình thành các thương tích trên do vật sắc gây nên.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 353/23/KLTTCT-TTPY ngày 15-5-2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận đối với Trần Ngọc H1. 1. Các kết quả chính: Sẹo mặt sau khuỷu tay phải, nằm xiên, kích thước (3,7 x 0,6)cm, sẹo lồi, màu hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 02%. Sẹo mặt lưng bàn tay phải, phía ngón V, nằm xiên, kích thước (1,5 x 0,1)cm, sẹo hơi lồi, màu hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01%. 2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Trần Ngọc H1 tại thời điểm giám định là 03%. Kết luận khác: Cơ chế hình thành các thương tích trên do vật sắc gây nên.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 352/23/KLTTCT-TTPY ngày 01-6-2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận đối với Từ Hữu L. 1. Các kết quả chính: Sây sát da dạng thẳng mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (04 x 0,1)cm; tỷ lệ là 01%. Sây sát da mu bàn tay trái không tồn tại; tỷ lệ là 00%. 2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Từ Hữu L tại thời điểm giám định là 01%. Kết luận khác: Cơ chế hình thành các thương tích trên do vật sắc gây nên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 22/KL.HĐ ngày 04-4-2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 08 miếng gạch men kích thước (60 x 60)cm, đã qua sử dụng, có giá trị là 08 miếng x 80.000 đồng x 100% = 640.000 đồng. 04 ly thủy tinh không quai, loại ly uống cà phê, đã qua sử dụng, có giá trị là 04 cái x 10.000 đồng x 100% = 40.000 đồng. 01 cái bình inox, loại bình trà, đã qua sử dụng, có giá trị là 01 cái x 60.000 đồng x 100% = 60.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là: 740.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo M tác động gia đình bồi thường cho Q 1.000.000 đồng. Bị hại anh Q yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị bệnh là 4.000.000 đồng, đã nhận 1.000.000 đồng; bị hại anh H1 yêu cầu bị cáo cáo bồi thường chi phí điều trị bệnh là 2.000.000 đồn; bị hại anh L không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị bệnh; bị hại ông N yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm là 740.000 đồng.
Tại cơ quan Điều tra, bị cáo; các bị hại anh Q, anh H1, anh L, ông N; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh V, anh P, anh T2, anh B, anh L2, anh K, anh H9, anh D, anh N1, bà H5, ông H; những người làm chứng anh K2, anh Hoàng L3 khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.
Tại Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 17-4-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Đỗ Thanh M về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có tính chất côn đồ).
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Đỗ Thanh M khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đồng ý bồi thường cho các bị hại gồm: Tiền thuốc, viện phí, chi phí cấp cứu, tài sản bị xâm phạm theo yêu cầu của các bị hại. Các bị hại anh Q, anh H1, anh L3, ông N khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên; anh Q yêu cầu bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bồi thường chi phí điều trị bệnh là 4.000.000 đồng, đã nhận 3.400.000 đồng; anh H1 yêu cầu bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bồi thường chi phí điều trị bệnh là 2.000.000 đồng, đã nhận 1.400.000 đồng; anh L3 không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị bệnh; ông N yêu cầu bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm là 740.000 đồng. Còn phần hình phạt yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm đ khoản 2 Điều 134 (có tính chất côn đồ, sử dụng hung khí nguy hiểm); Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 56 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thanh M từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Các Điều 584, 585, 586, 589 và 590 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trấn V, anh P, anh T2, anh L2, anh K, anh H9, anh B có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho các bị hại anh Q, anh H1, ông N tổng số tiền là 6.740.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo M đã bồi thường thiệt hại số tiền 2.500.000 đồng, trước đó gia đình bị cáo M đã bồi thường thiệt hại số tiền 1.000.000 đồng, anh B đã bồi thường thiệt hại số tiền 500.000 đồng, anh L2 đã bồi thường thiệt hại số tiền 800.000 đồng. Do đó số tiền còn lại 1.940.000 đồng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trấn V, anh P, anh T2, anh K, anh H9 có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho các bị hại anh Q, anh H1, ông N.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đặng Trọng P, anh Huỳnh Công Hữu H9, Trợ giúp viên pháp lý bà Văng Thị V1 trình bày: Thống nhất với bản cáo trạng, kết luận điều tra; anh P, anh H9 không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật. Các bị hại có yêu cầu anh P, anh H9 phải bồi thường thiệt hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc anh P, anh H9 bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn L2, anh Trần Văn N1, Trợ giúp viên pháp lý ông Lương Minh H10 trình bày: Thống nhất với bản cáo trạng, kết luận điều tra; anh L2, anh N1 không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật. Các bị hại có yêu cầu anh L2 phải bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa anh L2 đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại 800.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không buộc anh L2 phải bồi thường thêm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Quang T2, anh Nguyễn Gia B, Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Quang V2 trình bày: Thống nhất với bản cáo trạng, kết luận điều tra; anh T2, anh B không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật. Các bị hại có yêu cầu anh T2, anh B phải bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa anh B đã bồi thường số tiền 500.000 đồng tương ứng với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc anh T2 bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Hồng Trấn V, anh Huỳnh Nam K, Trợ giúp viên pháp lý bà Phạm Thanh Ái D1 trình bày: Thống nhất với bản cáo trạng, kết luận điều tra; anh V, anh K không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật. Các bị hại có yêu cầu anh V, anh K phải bồi thường thiệt hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc anh V, anh K bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa bị hại ông N, người đại diện hợp pháp của bị hại bà L1, ông T1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trấn V, anh P, anh T2, anh K, anh H9, anh N1, bà H5, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông C, bà N2, ông H6, bà T4, ông Cường E, ông H8, bà N3; người làm chứng anh K2, anh Hoàng L3 vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thanh M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của các bị hại; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; những người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 12 giờ ngày 19-3-2023, tại quán café bảng hiệu “KITTY” của Lê Thanh N tại khu dân cư thị trấn A thuộc khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; Đỗ Thanh M được sự rủ rê của Trần Hồng T5 V là người chưa đủ 16 tuổi, dùng dao 07 lỗ là hung khí nguy hiểm, cùng với nhóm của T5 Vũ chém gây thương tích vai trái, tay trái, tay phải của bị hại anh Q, làm anh Q bị thương tật với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 18%; chém gây thương tích tay phải của bị hại anh H1, làm anh H1 bị thương tật với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 3%; chém gây thương tích tay trái của bị hại anh L3, làm anh L3 bị thương tật với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 1%; chém làm hư hỏng 08 mặt bàn bằng gạch men, 04 ly thủy tinh, 01 bình inox của ông N với tổng giá trị thiệt hại là 740.000 đồng. Tuy bị cáo không trực tiếp gây thương tích cho các bị hại, không đập phá tài sản của các bị hại nhưng là người tham gia với vai trò giúp sức. Vì thế bị cáo M phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi do Trấn V, P, T2, B, L2, K, H9 gây ra.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Thanh M đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm (tội phạm nghiêm trọng).
- Đối với Trần Hồng T5 V là người chủ mưu rủ rê bị cáo M thực hiện hành vi phạm tội và đồng thời V còn mang theo hung khí nguy hiểm là dao chém gây thương tích cho các bị hại; tại thời điểm thực hiện hành vi chém gây thương tích cho các bị hại, V chưa đủ 16 tuổi. Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành không truy cứu trách nhiệm hình sự của V là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ Luật Hình sự.
Đối với Đặng Trọng P, Lê Quang T2, Nguyễn Gia B, Võ Văn L2, Huỳnh Nam K, Huỳnh Công Hữu H9 được sự rủ rê của Trần Hồng T5 V cùng mang theo hung khí nguy hiểm là dao, tích cực chém gây thương tích cho các bị hại; tại thời điểm thực hiện hành vi chém gây thương tích cho các bị hại, P, T2, B, L2, K, H9 chưa đủ 16 tuổi. Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành không truy cứu trách nhiệm hình sự của P, T2, B, L2, K, H9 là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ Luật Hình sự.
- Đối với Hồ Minh D, Trần Văn N1 được sự rủ rê của Trần Hồng T5 V cùng mang theo hung khí nguy hiểm là dao. Tuy nhiên do xe hết xăng D và N1 quay về do lo sợ chém người gây thương tích bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành không truy cứu trách nhiệm hình sự của D và N1 là đúng theo quy định tại Điều 16 của Bộ Luật Hình sự.
- Đối với Nguyễn Chung H11 tại ngoại đã chết ngày 07-02-2024 trong giai đoạn điều tra, do đó Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện C, tỉnh An Giang đã ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với H11 là đúng với quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với hành vi là hư hỏng 08 mặt bàn bằng gạch men, 04 ly thủy tinh, 01 bình inox của ông N với tổng giá trị thiệt hại là 740.000 đồng; giá trị tài sản bị hư hỏng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo M.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Như chúng ta đều biết, tính mạng, sức khỏe là vốn quý nhất của con người, được Nhà nước bảo hộ, mọi hành vi xâm phạm một cách trái pháp luật đều phải bị nghiêm trị. Bị cáo M là người thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo có hiểu biết nhất định về pháp luật, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật. Trong vụ án này hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là sử dụng dao tự chế là hung khí nguy hiểm cùng với nhóm người của Trấn Vũ nhằm gây thương tích cho người khác, bị hại Qui bị thương với tỷ lệ tổn thương là 18%, bị hại H1 bị thương với tỷ lệ tổn thương là 3%, bị hại L3 bị thương với tỷ lệ tổn thương là 1%, có tính chất côn đồ.
- Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị cáo tác động người nhà bồi thường thiệt hại cho các bị hại số tiền 3.500.000 đồng; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo M được áp dụng 02 tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; tuy nhiên sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và đã được xét xử bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Q yêu cầu bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh V, anh P, anh T2, anh B, anh L2, anh K, anh H11 phải liên đới bồi thường thêm chi phí điều trị bệnh là 4.000.000 đồng; anh H1 yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị bệnh là 2.000.000 đồng; ông N yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm là 740.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại và đã nộp số tiền 3.500.000 đồng, tương ứng với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của bị cáo theo yêu cầu của các bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh B đã nộp số tiền 500.000 đồng, anh L2 đã nộp số tiền 800.000 đồng, tương ứng với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của anh B, anh L2. Căn cứ Các Điều 584, 585, 586, 589 và 590 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xem xét buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trấn V, anh P, anh T2, anh K, anh H11 phải bồi thường thiệt hại cho các bị hại anh Q 600.000 đồng, anh H1 600.000 đồng, ông N 740.000 đồng.
[6] Về vật chứng liên quan đến vụ án:
- Đối với xe mô tô biển số: 67B2 – 790.58, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RSX FI, màu xám - đen, số khung: RLHJA3847NY143031, số máy: JA52E0453113 là của bà Đặng Thị H5, do Đặng Trọng P giao nộp, P dùng làm phương tiện gây án bà H5 không biết. Căn cứ Điều 46, Điều 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét trả lại bà H5.
- - Đối với 01 xe mô tô biển số: 67B2 – 820.93, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE ALPHA, màu trắng - bạc, số khung: RLHJA3928NY513335, số máy: JA39E2975128 do Hồ Minh D giao nộp, không liên quan đến tội phạm. Căn cứ Điều 46, Điều 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho anh D.
[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh M phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 56 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù của bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 21-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Hình phạt chung bị cáo Đỗ Thanh M phải chấp hành là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 21-6-2023.
Căn cứ vào: Điều 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 30 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 589 và 590 của Bộ Luật Dân sự năm 2015. Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Hồng Trấn V, anh Đặng Trọng P, anh Lê Quang T2, anh Huỳnh Nam K, anh Huỳnh Công Hữu H9 phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại anh Nguyễn Nhật Q 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng), phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại anh Trần Ngọc H1 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng), phải bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bị hại ông Lê Thanh N với số tiền 740.000đ (bảy trăm bốn mươi ngàn đồng).
Căn cứ vào: Điều 46 và Điều 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự.
Trả lại cho bà Đặng Thị H5 01 xe mô tô biển số: 67B2 – 790.58, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RSX FI, màu xám - đen, số khung: RLHJA3847NY143031, số máy: JA52E0453113.
Trả lại cho anh Hồ Minh D 01 01 xe mô tô biển số: 67B2 – 820.93, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE ALPHA, màu trắng - bạc, số khung: RLHJA3928NY513335, số máy: JA39E2975128
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKS ngày 17-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Căn cứ Điều 136 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Đỗ Thanh M phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Hồng Trấn V, anh Đặng Trọng P, anh Lê Quang T2, anh Huỳnh Nam K, anh Huỳnh Công Hữu H9, mỗi người phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ vào: Điều 331 và Điều 333 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11-7-2024).
Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đông Hoà |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm: cố ý gây thương tích
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thanh Minh phạm tội Cố ý gây thương tích
