Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 40/2024/HNST

Ngày: 12/6/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Ánh
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Nguyễn Minh Phương
    2. Ông Trần Ngọc Bích
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án thụ lý số: 84/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 149/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đào Kim H, sinh năm 1984 ( Có mặt)

ĐKTT: 8/8, T, phường T, quận N, TP Cần Thơ.

Địa chỉ liên hệ: 158, ấp T, xã T, huyện T, TP Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm 1970 (Vắng mặt)

ĐKTT: 8/8, T, phường T, quận N, TP Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Đào Kim H cho rằng: Bà và ông Trần Minh T đã tiến đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, tổ chức lễ cưới năm 2006, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/7/2007, tại UBND phường T, quận N, TP Cần Thơ. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do không thấu hiểu và thông cảm cho nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường cãi vã, đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay bà H xác định không thể hàn gắn với chồng là ông T nên có đơn yêu cầu xin ly hôn.

- Về con chung: Có 02 con chung;

  1. Trần Khiết D ( Nữ), sinh ngày 18/4/2007
  2. Trần Dĩnh N (N1), sinh ngày 03/10/2013

Từ khi ly thân đến đến nay con do bà đang nuôi dưỡng, khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi 02 cháu, không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Trần Minh T trong suốt quá trình từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ bằng phương thức tống đạt thông báo thụ lý, thông báo phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhiều lần do trực tiếp người thân thích là mẹ ruột ông cùng nơi cư trú ký nhận, nhưng ông T vẫn vắng mặt, nên không thu thập được lời khai.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đào Kim H trình bày: Ngoài những mâu thuẫn nêu trên còn có mâu thuẫn về kinh tế, ông T không lo làm để lo cho gia đình, nay vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung như nêu trên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Đào Kim H khởi kiện xin ly hôn với ông Trần Minh T nên tranh chấp giữa các đương sự là loại “Tranh chấp ly hôn” và bị đơn có nơi cư trú tại quận N, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Đối với bị đơn ông Trần Minh T căn cứ địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp trong đơn khởi kiện và kèm theo phiếu xác minh của Công an phường T, quận N, thì xác định ông T hiện có đăng ký thường trú tại địa chỉ nên trên và vẫn còn cư trú tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp. Tòa án đã tống đạt hợp lệ bằng phương thức tống đạt trong quá trình mời hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt. Nên căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5, 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định.

[3] Xét về yêu cầu xin ly hôn: Bà Đào Kim H và ông Trần Minh T bắt đầu chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn năm 2007, nên được pháp luật công nhận ông, bà là vợ chồng. Quá trình chung sống theo bà H cho rằng do vợ chồng bất đồng quan điểm trong quá trình sống chung, phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường cãi vã, vợ chồng đã ly thân từ năm 2019, nên nay dẫn đến xin ly hôn.

Xét thấy với những mâu thuẫn của bà H và ông T dẫn đến yêu cầu xin ly hôn như bà trình bày, thời gian cũng từ năm 2019 cho đến nay. Từ đó cho đến nay ông, bà mỗi người ở riêng, cũng không có biện pháp gì để hàn gắn lại. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã nhiều lần tống đạt thông báo hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến phiên tòa hôm nay, nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do, chứng tỏ ông không còn quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân này. Nên xét thấy mâu thuẫn của ông, bà đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này, thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Do đó có căn cứ chấp nhận cho bà Đào Kim H với ông Trần Minh T được ly hôn với nhau.

[4]Về con chung:

Xét việc giao con chưa thanh niên cho vợ hoặc chồng nuôi dưỡng khi ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Xét thấy từ khi bà H và ông T ly thân cho đến nay, bà H đang trực tiếp nuôi con chung. Qua trình bày bà H hiện cũng có công việc ổn định có thu nhập để nuôi các cháu, các cháu cũng đã được đi học. Đối với ông T trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông không có mặt, cũng không thể hiện ý kiến của mình về việc có yêu cầu xin nuôi con chung hay không. Do đó với những căn cứ nêu trên, xét thấy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các cháu Trần Khiết D và Trần Dĩnh N về điều kiện sinh sống, học tập sau này và đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu về thể chất và tinh thần, tránh bị xáo trộn về tâm sinh lý, nghĩ nên tiếp tục giao các cháu cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu tại bản tự khai, đồng thời ghi nhận việc bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

[5]Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp, sẽ được giải quyết thành vụ án khác.

[6]Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 4; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đào Kim H

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Đào Kim H được ly hôn với ông Trần Minh T;

- Về con chung: Có 02 con chung :

  • 1/.Cháu Trần Khiết D (Nữ), sinh ngày 18/4/2007;
  • 2/.Cháu Trần Dĩnh N (N1), sinh ngày 03/10/2013

Khi ly hôn giao cho bà Đào Kim H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho ông Trần Minh T, không ai được quyền ngăn cản và có quyền xin thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con.

- Về tài sản chung, nợ chung : Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí sơ thẩm Hôn nhân và Gia đình : Bà Đào Kim H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được chuyển từ tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000739, ngày 03/01/2024 thành án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng có trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS quận Ninh Kiều;
  • - UBND phường nơi ĐKKH
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa

BÙI XUÂN ÁNH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 40/2024/HNST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn giữa Đào Kim H với Trần Minh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger