Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 - 5-2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Hiền;

Bà Nguyễn Thị Thêu

- Thư ký phiên tòa:

Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Chị Phạm Thị H, sinh năm 1992; Đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình

Nơi ở hiện nay: Số nhà C, tổ dân phố số D, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình

- Bị đơn:

Anh Phạm Đắc L, sinh năm 1991; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện anh L đang lao động tại Đài Loan.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn - chị Phạm Thị H trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 30/5/2017 tại Ủy ban Nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Thời gian đầu vợ chồng chị chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do kinh tế khó khăn, quan điểm, tính tình không hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Năm 2018 anh L đi lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu đi lao động vợ chồng chị vẫn liên lạc để hỏi thăm con chung, nhưng sau đó (khoảng năm 2021) mâu thuẫn liên miên, căng thẳng nên anh chị không liên lạc với nhau nữa. Nay chị H xác định vợ chồng chị sống ly thân đã lâu, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh L.

+ Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Phạm Hải Đ, sinh ngày 27/7/2017 và Phạm Đăng K, sinh ngày 14/11/2018, cả 02 con chung đều đang do chị H nuôi dưỡng, con chung được học tập, chăm sóc tốt. Hiện nay anh L đang lao động tại Đài Loan, không thể trực tiếp chăm sóc con chung nên chị H đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho chị nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – anh Phạm Đắc L gửi văn bản (có xác nhận của Văn phòng K1) trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện và hoàn cảnh kết hôn của anh và chị H đúng như chị H đã trình bày. Anh L xác định quá trình chung sống vợ chồng anh không hạnh phúc, quá trình anh đi lao động tại Đài Loan vợ chồng anh không tìm được tiếng nói chung. Anh L xác định vợ chồng anh không còn tình cảm, không muốn duy trì hôn nhân nên anh L đồng ý ly hôn chị H.

+ Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung như chị H đã trình bày. Hiện nay anh L đang lao động ở Đài Loan không thể trực tiếp chăm sóc con chung nên anh đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, anh L đồng ý.

+ Về tài sản chung, nợ chung : Vợ chồng anh không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Xét thấy, anh Phạm Đắc L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện nay anh L đang lao động tại Đài Loan, có xác nhận của Văn phòng K1. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phạm Thị H và anh Phạm Đắc L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Qua lời trình bày của chị H và anh L đều thể hiện hôn nhân của anh chị có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù anh chị cũng đã tìm cách để hàn gắn nhưng không thành, dẫn đến chị H kiên quyết xin ly hôn, anh L đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử thấy hôn nhân của anh chị đã căng thẳng trầm trọng, có duy trì cũng không mang lại hạnh phúc. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử cho anh chị ly hôn là phù hợp.

[2.2] Về con chung:

Chị H và anh L có 02 con chung là Phạm Hải Đ, sinh ngày 27/7/2017 và Phạm Đăng K, sinh ngày 14/11/2018. Ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung, anh L đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho chị H nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay anh L đang ở nước ngoài, không thể trực tiếp nuôi dưỡng con chung, con chung của anh chị đang do chị H nuôi dưỡng, con chung được học tập, chăm sóc, phát triển tốt nên cấp tiếp tục giao cả hai con chung cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp. Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:

Chị H và anh L xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[2.4] Về án phí:

Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2.5] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Phạm Đắc L.
  2. Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung Phạm Hải Đ, sinh ngày 27/7/2017 và Phạm Đăng K, sinh ngày 14/11/2018. Anh Phạm Đắc L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Phạm Đắc L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí:

    Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị H nộp tại biên lai số 00000147 ngày 04/4/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ; Anh Phạm Đắc L có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Thái Bình
  • - Đương sự,
  • - UBND xã Thụy Trình, h. Thái Thụy.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kim Hằng

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger