TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST | |
Ngày: 24 – 6 - 2024 | |
V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Đẹp
- Ông Nguyễn Thanh Liêm
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 100/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1995
Địa chỉ: Số B, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1996
Địa chỉ: Số B, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Nguyên đơn; Bị đơn có đơn xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm V trình bày:
- Về hôn nhân: Chị V và anh G tìm hiểu thời gian khoảng 02 năm thì chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2012, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Chị V và anh G chung sống hạnh phúc đến năm 2016 có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh G không làm ăn phụ tiếp kinh tế gia đình cùng chị V để nuôi con mà thường xuyên tụ tập bạn bạn bè ăn chơi, sử dụng ma túy. Chị G và gia đình có khuyên bảo nhưng không sửa đổi mà còn có hành vi bạo lực gia đình, đánh chị G. Gia đình cũng đã mời công an địa phương đến giải quyết nhiều lần nhưng anh G vẫn vậy, không chịu sửa đổi.
Nay chị G nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh G, chị yêu cầu ly hôn anh G.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 14/02/2013 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 30/4/2016. Khi ly hôn chị V yêu cầu nuôi hai con, yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi hai con theo quy định pháp luật. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày xét xử đến khi hai con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Trường G: Đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có văn bản trình bày ý kiến.
* Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 06/6/2024, cháu Nguyễn Nhựt T có nguyện vọng được sống chung với chị V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở Đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Nguyễn Thị Cẩm V, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật phải giải quyết là “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn Nguyễn Trường G hiện cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Chị Nguyễn Thị Cẩm V và anh Nguyễn Trường G có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cẩm V về việc yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Trường G, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị V và anh G chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012, có tổ chức đám cưới và cũng không có đăng ký kết hôn là vi phạm Luật hôn nhân và gia đình.
Lẽ ra, trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012 đến nay, chị V và anh G phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn để được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp. Hơn nữa, trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng, giữa chị V và anh G đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do quan điểm sống không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh G có hành vi bạo lực gia đình, đánh chị G làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương. Công an cũng đã mời đến giải quyết nhiều lần nhưng anh G không sửa đổi. Từ đó, tình cảm vợ chồng ngày càng bị tổn thương rạn nứt, không thể hòa giải, hàn gắn. Nay chị G nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh G nên yêu cầu ly hôn.
Về phía anh G đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết việc chị V yêu cầu ly hôn nhưng không có văn bản trình bày ý kiến, Bản thân anh G cũng không có mong muốn hàn gắn tình cảm với chị V nên không đến Tòa án cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình. Mặt khác, chị V và anh G không tuân thủ việc kết hôn theo quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ. Nên căn cứ Điều 14, 15 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chi V, không công nhận chị V và anh G là vợ chồng.
[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn: Chị V và anh G chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 14/02/2013 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 30/4/2016 (hiện sống chung với chị V, anh G), khi ly hôn chị V yêu cầu nuôi hai con. Về phía anh G quá trình giải quyết vụ án cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của chị V. Do đó, việc chị V yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi 02 con là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nguyện vọng của cháu T. Anh G có quyền nghĩa vụ đến thăm con, không ai được quyền cản trở.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Khi ly hôn chị V yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi hai con Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị Yến N theo quy định pháp luật. Anh G đã nhận được các văn bản tố tụng của tòa, nhưng không có ý kiến gì. Căn cứ theo quy định tại Điều 82, Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị V. Anh G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu (Trường -) mỗi tháng bằng 50% mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án (24/6/2024) đến khi hai cháu T và N đủ 18 tuổi, có khả năng lao động và tài sản để tự nuôi mình.
[2.4] Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị V trình bày không có, không tranh chấp yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Chị V phải chịu 300.000đồng án phí về ly hôn; Anh G chịu 300.000đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào các Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Cẩm V và anh Nguyễn Trường G.
- Về nuôi con chung:
- - Anh Nguyễn Trường G có trách nhiệm giao hai con chung tên Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 14/02/2013 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 30/4/2016 cho chị Nguyễn Thị Cẩm V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con (Hai con hiện đang sống với chị V và anh G).
- - Anh Nguyễn Trường G cấp dưỡng nuôi hai con chung tên Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 14/02/2013 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 30/4/2016 mỗi tháng bằng 50% mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án (24/6/2024) đến khi hai cháu (T và N) đủ 18 tuổi, có khả năng lao động và tài sản để tự nuôi mình.
- - Anh Nguyễn Trường G có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm V trình bày không có, nên không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
- - Chị Nguyễn Thị Cẩm V nộp 300.000 đồng án phí về ly hôn. Số tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp ngày 07/5/2024 theo biên lai thu số 0004171 tại Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố S được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.
- - Anh Nguyễn Trường G nộp 300.000 đồng án phí về việc cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị T1 |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn do mâu thuẫn gia đình
