|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 04-12-2024
V/v “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản
chung của nam, nữ chung sống với
nhau như vợ chồng mà không đăng ký
kết hôn”
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Sang.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thanh Minh Châu;
Ông Nguyễn Quốc Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Bình- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLPT-HNGĐ, ngày 16 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 43/2024/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 34/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 172/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị M, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp về vấn đề chia tài sản của nguyên đơn bà Hồ Thị M là: Bà Đỗ Thị M1, sinh năm 1962; địa chỉ: Ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, (theo hợp đồng ủy quyền ngày 31/8/2023), vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Hữu P, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Lâm Thị C, sinh năm 1972; nơi cư trú: Ấp C, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
+ Bà Đào Thị N, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: Bà Hồ Thị M là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/8/2023, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hồ Thị M, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Đỗ Thị M1 trình bày:
Bà M và ông Phạm Hữu P chung sống với nhau vào 2010 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng cũng hạnh phúc như bao gia đình khác. Nhưng cuộc sống không như mong muốn, chung sống được thời gian chín năm thì ông P thay đổi, không còn tình cảm với bà M, mà có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, từ đó dẫn đến rạn nứt hạnh phúc gia đình. Do cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể duy trì được nên bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà M được ly hôn với ông Phạm Hữu P. Bà M và ông P đã không còn chung sống với nhau đến nay đã được khoảng 3-4 năm.
Về con chung: Không có.
Về nợ chung: Không có, bà M không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, trong thời gian chung sống bà M và ông P có những tài sản chung như sau:
- Phần đất có diện tích ngang 5m x dài 50m, thuộc phần đất có diện tích 4350m² tại thửa đất số 2411, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, nguồn gốc phần đất này do bà M, ông P mua lại của ông Phạm Văn N1 và bà Lê Thị C1 (ông N1, bà C1 mua của ông N2 nhưng chưa tách sổ), hiện trạng là đất trống, hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong sổ mục kê do bà Đào
Thị N đứng tên (sau đây gọi là tài sản số 1). Phần đất này khi chuyển nhượng thì bà M còn thiếu bà N số tiền 10.000.000 đồng, tuy nhiên, bà M không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, bà M và bà N sẽ tự thỏa thuận với nhau về số tiền 10.000.000 đồng.
- Phần đất có diện tích 3019 m², tờ bản đồ số 6, diện tích 518.0m², tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh do ông Phạm Hữu P đứng tên, trên đất có 01 căn nhà cấp 4 do bà M đang quản lý, sử dụng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà M đang cất giữ (sau đây gọi là tài sản số 2).
- Phần đất có diện tích 902.8 m², thửa đất số 243, tờ bản đồ số 73, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh do ông Phạm Hữu P đứng tên, hiện trạng là đất trống, không có ai quản lý sử dụng, phần đất này ông P đã chuyển nhượng cho bà Lâm Thị C đứng tên (sau đây gọi là tài sản số 3).
Ngoài ra, bà M và ông P không còn tài sản chung nào khác.
Lý do bà M không được đứng tên chung trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì bà M là người Việt kiều Campuchia, không có giấy tờ tùy thân nên không làm Giấy đăng ký kết hôn với ông P được và cũng không được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông P mới đứng tên một mình đối với các tài sản chung trên.
Nay đối với tài sản chung bà M yêu cầu như sau:
Bà M yêu cầu được nhận tài sản số 1 và số 2 vì nằm liền kề với nhau, bà M đồng ý giao tài sản số C cho ông P, nếu giá trị của tài sản số 1 và số 2 nhiều hơn thì bà M đồng ý giao lại giá trị phần chênh lệch cho ông P. Ngoài ra, bà M không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Phạm Hữu P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án giải quyết cho bà M được ly hôn với ông Phạm Hữu P. Bà M và ông P đã không còn chung sống với nhau đến nay đã được khoảng 3-4 năm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị N trình bày:
Bà N có chuyển nhượng cho bà M phần đất có diện tích ngang 5m x dài 50m nên bà N có biết bà M, bà N không biết ông P là ai, từ trước đến nay bà N chưa từng gặp ông P. Phần đất trên bà N chuyển nhượng cho bà M vào năm 2018, nay thuộc thửa đất số 72, tờ bản đồ số 73, giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng, bà M đã trả cho bà N được số tiền 40.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 10.000.000 đồng. Nguồn gốc phần đất trên do ông Nguyễn Văn N2 và bà Trần Thị A đứng tên, sau đó, ông N2, bà A bán lại cho ông Nguyễn Văn S, sau đó ông S bán lại cho bà N, bà N sử dụng được
khoảng 10 năm thì bán lại cho bà M. Thời điểm mua bán, do bận công việc nên bà N ủy quyền cho ông Phạm Văn N1 và bà Lê Thị C1 bán lại cho bà M. Nay bà N vẫn đồng ý tiếp tục việc chuyển nhượng cho bà M nhưng bà M phải trả cho bà N số tiền 10.000.000 đồng, tuy nhiên, bà N không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, bà N và bà M sẽ tự thỏa thuận với nhau về số tiền 10.000.000 đồng. Ngoài ra, bà N không trình bày gì thêm, cũng không có yêu cầu gì khác.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 43/2024/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, nguyên đơn bà Hồ Thị M có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định giá trị thửa đất số 243, tờ bản đồ số 73, diện tích 902.8 m², tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh theo giá hội đồng thẩm định đã định giá.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Hồ Thị M. Sửa bản án sơ thẩm, đối với việc tính giá trị của thửa đất số 243, tờ bản đồ số 73, diện tích 902,8m² (tài sản số 3) theo giá của Hội đồng định giá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về sự vắng mặt của đương sự:
Nguyên đơn bà Hồ Thị M và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đỗ Thị M1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Hữu P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị C vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Đào Thị N có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22 tháng 8 năm 2024, nguyên đơn bà Hồ Thị M có đơn kháng cáo. Qua xem xét, đơn kháng cáo của bà M trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Bà Hồ Thị M và ông Phạm Hữu P chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010, không có đăng ký kết hôn nhưng được chính quyền địa phương xác nhận. Trong quá trình chung sống, bà M và ông P phát sinh mâu thuẫn, không thể chung sống được nữa nên bà M khởi kiện xin ly hôn với ông P. Do ông bà không có đăng ký kết hôn nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Hồ Thị M và ông Phạm Hữu P, theo quy định tại các Điều 9 và 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Bà M tranh chấp về chia tài sản chung trong thời gian bà và ông P chung sống với nhau như vợ chồng. Qua xác minh, thu thập chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bà M, ông P có các tài sản chung trong thời kỳ chung sống với nhau, gồm:
- Tài sản số 1: Phần đất có diện tích 251.3m² thuộc thửa đất số 72, tờ bản đồ số 73, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; do bà Đào Thị N đứng tên trong sổ mục kê nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện nay do bà M đang quản lý sử dụng; có giá thị trường là 30.000.000 đồng/1m ngang x dài hết đất, như vậy phần đất này trị giá là 156.000.000 đồng (5.2m x 30.000.000 đồng/1m ngang); tài sản trên đất có giá là: hàng rào có móng xây gạch, tường 10, cao bình quân 0.4m, rào lưới b40 có giá 28.880.000 đồng, tổng cộng tài sản 1 trị giá là 184.880.000 đồng.
- Tài sản số 2: Phần đất diện tích 503.4m² thuộc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 73, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Trên đất có 01 căn nhà cấp 4. Đất do ông Phạm Hữu P đứng tên và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hiện nay bà M đang quản lý sử dụng nhà đất. Đất có giá trị theo định giá thị trường là 30.000.000 đồng/1m ngang x dài hết đất, như vậy phần đất trị giá 300.000.000 đồng (10m x 30.000.000 đồng/1m ngang). Các tài sản trên đất theo định giá, có giá như sau: Nhà cấp 4 có giá 85.705.000 đồng; mái che có giá 14.160.000 đồng; 01 bồn
nước có giá 1.570.500 đồng; 01 hồ chứa nước sinh hoạt có giá 489.000 đồng; 01 cây mai có giá 300.000 đồng. Tổng cộng tài sản 2 có giá trị là 402.224.500 đồng.
- - Tài sản số 3: Phần đất diện tích 902.8m² thuộc thửa đất số 243, tờ bản đồ số 73, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; hiện nay do bà Lâm Thị C đứng tên và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện nay là đất trống, không có ai quản lý sử dụng, thuộc thửa đất số 243, tờ bản đồ số 73, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, nguồn gốc cho bà C nhận chuyển nhượng của ông P vào ngày 09/9/2022, giá chuyển nhượng trong hợp đồng là 360.000.000 đồng.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Hồ Thị M.
[3.1] Bà M cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị tài sản đối với phần đất diện tích 902.8m² thuộc thửa đất số 243, tờ bản đồ số 73, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T theo giá hợp đồng chuyển nhượng giữa ông P với bà C là 360.000.000 đồng là không phù hợp, bà yêu cầu tính bằng giá trị do Hội đồng định giá đã định.
[3.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Phần đất diện tích 902.8m² thuộc thửa đất số 243, tờ bản đố số 73, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (tài sản số C) mặc dù được đứng tên ông P, nhưng có căn cứ xác định là tài sản chung cũa bà M và ông P tạo lập trong thời kỳ hôn nhân (ông P, bà M nhận chuyển nhượng lại của vợ chồng bà Phùng Thị Thu H vào năm 2015), nhưng do bà M là người Việt kiều Campuchia không có giấy tờ tùy thân nên để cho ông P đứng tên, nên xác định là tài sản chung của ông P, bà M là đúng quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, khi chuyển nhượng tài sản chung cho người khác ông P không thông báo và không giao lại cho bà M ½ giá trị tài sản tại thời điểm chuyển nhượng. Tòa án cấp sơ thẩm tính giá trị tài sản chung theo giá của Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông P và bà C là chưa chính xác, làm thiệt thòi quyền lợi của bà M. Do đó, cần tính lại giá trị tài sản chung khi chia là có căn cứ.
[3.3] Theo Biên bản định giá tài sản ngày 01-02-2024, Hội đồng định giá cấp sơ thẩm đã xác định tài sản số 3 trị giá: Quyền sử dụng đất 30.000.000 đồng/1 mét ngang x 18 mét, thành tiền 540.000.000 đồng; như vậy giá trị tài sản số 3 là 540.000.000 đồng.
Do đó, tổng giá trị tài sản chung của bà M, ông P là 1.127.104.500 đồng (gồm: Tài sản 1 trị giá: 184.880.000 đồng + Tài sản 2 trị giá: 402.224.500 đồng + Tài sản 3 trị giá 540.000.000 đồng); được chia cho mỗi người ½ giá trị tài sản, tương đương 563.552.250 đồng.
- Bà M được nhận tài sản số 1 và tài sản số 2 trị giá 587.104.500 đồng
- Ông P nhận tài sản số C (đã chuyển nhượng cho bà C) trị giá 540.000.000 đồng.
Do đó, bà M phải hoàn trả phần chênh lệch giá trị tài sản khi chia tài sản chung cho ông P là 23.552.250 đồng.
[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị M; sửa bản án sơ thẩm.
[5] Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên cần tính lại tiền án phí dân sự sơ thẩm các bên phải chịu theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do kháng cáo của bà M được chấp nhận nên bà M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Hồ Thị M .
- Sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ các Điều 9, Điều 14, Điều 16 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 207, Điều 208, Điều 210 và Điều 219 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị M đối với ông Phạm Hữu P về việc tranh chấp ly hôn, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”.
2. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Hồ Thị M với ông Phạm Hữu P.
3. Về con chung: Không có.
4. Về nợ chung: Bà M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
5. Về tài sản chung:
5.1. Bà Hồ Thị M được quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 72, tờ bản đồ số 73 có diện tích 251.3m², tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (do bà Đào Thị N đăng ký kê khai trong sổ mục kê) và tài sản trên đất là hàng rào có móng xây gạch, tường 10, cao bình quân 0.4m, rào lưới B40 (chiều cao lưới bình quân là 1.2m). Bà Hồ Thị M được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
5.2. Bà Hồ Thị M được quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 77, tờ bản đồ số 73, diện tích 503.4m² tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH85400, do UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Phạm Hữu P ngày 31/12/2013) và các tài sản trên đất gồm: 01 căn Nhà cấp 4 ngang 4.94m x dài 16.01m, tường xây tô, mái lợp tol, la phông, nền lát gạch bông, sân lợp tol, mái che, 01 bồn nước Inox 1000l có chân là trụ xi măng, 01 hồ chứa nước sinh hoạt xây, tô diện tích 1.26m x 1.76m và 01 cây mai.
Bà Hồ Thị M có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như phần quyết định đã tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án của Tòa án để giải quyết, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
5.3 Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số 181/SĐ-HT ngày 12/3/2024 của Công ty TNHH K là bộ phận không tách rời của bản án.
5.4. Buộc bà Hồ Thị M có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Hữu P số tiền 23.552.250 (hai mươi ba triệu năm trăm năm mươi hai nghìn hai trăm năm mươi) đồng.
6. Về chi phí đo đạc; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Buộc ông Phạm Hữu P có nghĩa vụ trả lại cho bà Hồ Thị M số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án
còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
7. Về án phí sơ thẩm:
- Bà Hồ Thị M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí về hôn nhân và gia đình và 28.177.600 (hai mươi tám triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm) đồng, tiền án phí dân sự sơ thẩm khi chia tài sản chung. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tại Biên lai thu số 0008574 ngày 02/10/2023 và 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng tại Biên lai thu số 0008573 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Bà Hồ Thị M còn phải nộp thêm số tiền 23.677.600 (hai mươi ba triệu sáu trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm) đồng.
- Ông Phạm Hữu P phải chịu 28.177.600 (hai mươi tám triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm) đồng, tiền án phí dân sự sơ thẩm khi chia tài sản chung.
8. Về án phí phúc thẩm:
Bà Hồ Thị M không phải chịu án phí phúc thẩm. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho bà M số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0006547 ngày 22-8-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Sang |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Thị Hồng Vân Phan Thị Mai Dung |
Lê Hữu Chiến |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
