TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/DS-ST
Ngày: 29/8/2024.
V/v “tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Minh.
- Bà Mai Thị Huyền Trang.
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Lê –Kiểm sát viên.
Ngày 29/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 180/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2022 về việc "tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-DS ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:
- -Nguyên đơn: Bà Kiều Thị S, sinh năm: 1953 (có mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Kiều Thanh T-sinh 1981(có mặt).
- -Bị đơn: Ông Kiều Cai Ô, sinh năm: 1935 (chết ngày 11/12/2021)
- Và bà Thị T1 -sinh năm: 1941 (chết 2023).
- Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn gồm:
- +Bà Kiều Thị T2, sinh năm 1967 (có mặt).
- +Ông Kiều P, sinh năm 1972 (có mặt).
- +Ông Kiều T3, sinh năm 1975 (có mặt).
- (Bà T2, ông P, ông T3 là con ruột của bị đơn)
Cùng trú: Thôn T, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Kiều Thị S và người đại điện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Kiều Thanh T đều trình bày:
Trước năm 1975, cha bà Kiều Thị S tên Kiều Đ (sinh năm 1910, chết 1990) có khai hoang một số diện tích đất ở thôn T, xã A, huyện N. Năm 1988 cha bà đã để lại diện tích đất này cho vợ chồng bà trực tiếp canh tác. Đến năm 1994 thì gia đình ông Kiều Cai Ô, bà Thị T1 đến tranh chấp đất, nên gia đình bà đã báo chính quyền thôn T. Chính quyền thôn có mời hai bên lên hòa giải, do đất không có giấy tờ nên hướng chia diện tích đất để hai bên gia đình cùng canh tác nhưng hai bên đều không đồng ý. Năm 2019, khi thấy gia đình ông Kiều Cai Ô, bà Thị T1 đến làm ranh rào đất thì bà đã báo với chính quyền UBND xã A giải quyết. Do dịch bệnh Cô vid nên mãi đến năm 2021 thì UBND xã A mới hòa giải nhưng không thành.
Được biết đất tranh chấp có diện tích khoảng 17.000m², thuộc một phần của thửa đất số 18, tờ bản đồ số 19 của UBND xã A. Từ khi cha bà khai hoang canh tác đất trước năm 1975 và cho đến khi vợ chồng bà canh tác đất thì đều không có giấy tờ gì về đất, gia đình bà cũng không khai báo với chính quyền về diện tích đất khai hoang.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn gồm: Bà Kiều Thị T2, ông Kiều P, ông Kiều T3 đều cho biết:
Cha tên Kiều Cai Ô, (sinh năm 1935, chết năm 2022) và mẹ tên Thị T1, (sinh năm 1941, chết năm 2023). Cha mẹ có 04 người con chung gồm bà Kiều Thị T2, ông Kiều P, ông Kiều T3, ông Kiều H (ông H chết tháng 9/2023).
Nguồn gốc đất tranh chấp có diện tích khoảng 17.000m², thuộc một phần của thửa đất số 18, tờ bản đồ số 19 của UBND xã A, là do cha mẹ (Ôn +Tép) khai hoang trước năm 1975, gia đình chúng tôi đã trực tiếp canh tác đất như trồng cây ngắn ngày ăn nước trời. Đến năm 1994 thì gia đình bà Kiều Thị S đến tranh chấp, chính quyền thôn T và UBND xã A có hòa giải nhưng không thành. Trong thời gian tranh chấp thì gia đình chúng tôi vẫn canh tác đất như xây chòi và trồng trụ làm ranh rào lước B40 xung quanh đất. Năm 2019 gia đình chúng tôi vẫn trồng cây trên đất thì có người đến phá cây hoa màu và dỡ chòi trên đất.
Khi cha mẹ (Ôn +Tép) già yếu và mất, thì gia đình thống nhất để diện tích đất trên cho bà Kiều Thị T2 trực tiếp canh tác. Do không am hiểu pháp luật nên gia đình chúng tôi chưa làm thủ tục đăng ký cấp quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa các đương sự không nộp thêm chứng cứ gì.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Các đương sự đồng ý kết quả thẩm định và định giá tài sản ngày 14/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- -Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 của BLTTDS.
- -Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 147, 165 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, tuyên xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp quyền sử dụng đất. Về án phí và các chi phí tố tụng khác các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Căn cứ kết quả hỏi công khai và nghe các đương sự tranh luận tại phiên tòa.
Sau khi Hội đồng xét xử sơ thẩm nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đương sự nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Tài sản tranh chấp và các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ khoản 5, 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS, HĐXX xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “tranh chấp quyền sử dụng đất” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước.
[2] Về tư cách tham gia tố tụng của đương sự: Do bị đơn ông Kiều Cai Ô, bà Thị T1 đều đã chết, nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ là các con ruột của bị đơn gồm bà Kiều Thị T2, ông Kiều P, ông Kiều T3 tham gia tố tụng.
[3] Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn bà Kiều Thị S khởi kiện bị đơn ông Kiều Cai Ô, bà Thị T1 về tranh chấp quyền sử dụng đối với diện tích đất khoảng 17.000m², thuộc một phần thửa đất số 18, tờ bản đồ số 19 của UBND xã A.
[3.1] Xác định đất tranh chấp: Theo biên bản thẩm định và định giá tài sản ngày 14/4/2023 thì thửa đất số 1343, tờ bản đồ số 19 của UBND xã A, huyện N qua đo đạc thực tế có diện tích 17.079m², tọa lạc tại thôn T, xã A, huyện N, có vị trí tứ cận: Đông giáp thửa số 862; Tây giáp thửa đất số 18 và thửa đất số 612; Nam giáp một phần thửa đất số 18 và thửa đất số 29; Bắc giáp thửa đất số 8, thửa đất số 441 và 432.
Đất tranh chấp thuộc loại đất trồng cây hàng năm khác ở vị trí 3 có giá nhà nước (33.000đồng/m² x 1,1) x 17.079m² = 619.967.700đồng.
Trên thửa đất số 1343, có trồng các loại trụ và làm rào lưới B40 xung quanh đất cụ thể: 40 cây trụ bê tông cao 1,5m ; 20 cây trụ gỗ cao 2,5m; Lưới B40 rào 3 mặt; có giá 57.000đồng/m x 500m = 28.500.000đồng.
[3.2] Tài liệu nguyên đơn cung cấp: Kèm theo đơn khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất thì nguyên đơn Kiều Thị S có nộp bản sao biên bản hòa giải ngày 09/7/2021 và thông báo kết quả hòa giải ngày 06/12/2021 của UBND xã A, nhưng nội dung trong biên bản và thông báo hòa giải này đều không thể hiện nguyên đơn bà Kiều Thị S có quyền sử dụng đất.
Ngày 25/10/2022, Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước có Công văn số 09/2022/YC-TA yêu cầu nguyên đơn bà Kiều Thị S phải cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Tuy nhiên bà S vẫn chưa nộp tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu của mình, ngoài nộp bản sao biên bản hòa giải ngày 09/7/2021 và thông báo kết quả hòa giải ngày 06/12/2021 của UBND xã A.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Kiều Thanh T-người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự thu thập và giao nộp cho Tòa án các giấy làm chứng của các ông bà: Não Thị Bá M, Lộ Văn B, Kiều Ngọc H1, Kiều Thị Mộc L, Não Thị N, não Thị Q, Đạt Thị T4, Từ Thị Cú P1, Kiều Thị Ỏ, Kiều Thị C, T, Lưu Văn H2, Thị Bá Ô1, T, T. Nội dung các giấy làm chứng của những người nêu trên đề cho rằng đất đang tranh chấp giữa bà Kiều Thị S và ông Kiều Cai Ô có nguồn gốc do ông Kiều Đ tự khai hoang và canh tác trước năm 1975, sau khi ông Đ chết thì bà S tiếp tục canh tác đất.
Hội đồng xét xử xét thấy: việc nguyên đơn bà Kiều Thị S và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Kiều Thanh T tự đi thu thập lời khai nhân chứng giao nộp cho Tòa án và đề nghị Tòa án công nhận diện tích đất tranh chấp (thửa đất số 1343, tờ bản đồ số 19 của UBND xã A), thuộc quyền quản lý sử dụng của bà Kiều Thị S là không khách quan, không có căn cứ để chấp nhận.
[3.3] Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước có thu thập lời khai của các hộ dân có đất canh tác lân cận xung quanh thửa đất số 1343, tờ bản đồ số 19 của UBND xã A đang tranh chấp, thì phần lớn đều cho rằng: từ trước đến nay chỉ thấy gia đình ông Kiều Cai Ô, bà Thị T1 canh tác quản lý đất và trồng trụ làm ranh rào lưới B40 xung quanh đất.
[4] Tại công văn số 39/UBND ngày 01/4/2024 của UBND xã A cung cấp thông tin theo công văn số 25/CV-TA ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước: Tại trang số 78 thuộc sổ mục kê đất lập năm 1996 do UBND xã A quản lý thì thửa đất số 18, tờ bản đồ 19, diện tích 14.655m², loại đất màu, phần tên chủ sử dụng đất ghi tên Kiều Bá M1. Việc cấp cho cá nhân hay hộ gia đình thì UBND xã A không rõ.
Theo biên bản xác minh tại UBND xã A ngày 22/5/2024: Diện tích đất tranh chấp thuộc một phần của thửa 18 và một số thửa khác, thuộc tờ bản đồ 19 của UBND xã A (theo đo đạc thực tế đất tranh chấp có diện tích 17.079m², chỉnh lý thành thửa đất số 1343). Tuy nhiên từ trước đến nay chưa có ai đến UBND xã A để kê khai đăng ký quyền sử dụng đất. Được biết gia đình ông Kiều Cai Ô có thời gian canh tác đất và trồng trụ làm ranh rào xung quanh đất, không thấy gia đình bà Kiều Thị S1 canh tác đất, hiện tại đất bỏ trống.
[5] Hội đồng xét xử, xét thấy: Hiện tại chính quyền địa phương nơi có đất tranh chấp là UBND xã A cho rằng thửa đất số 1343 được quy chủ cho ông Kiều Bá M1. Tuy nhiên ông Kiều Bá M1 -sinh năm 1942, trú tại thôn T, xã A –là người được quy chủ đất lại có ý kiến cho rằng, từ trước đến nay ông M1 không hề canh tác và quản lý đất tranh chấp, ông M1 cũng không tranh chấp đất với gia đình bà Kiều Thị S và gia đình ông Kiều Cai Ô.
Nguyên đơn Kiều Thị S khởi kiện tranh chấp và đề nghị Tòa án công nhận thửa đất 1343 (tách từ một phần thửa 18), tờ bản đồ địa chính 19 của UBND xã A là thuộc quyền sử dụng của bà S. Tuy nhiên bà S không có giấy tờ gì về thửa đất nói trên và cũng không trực tiếp quản lý đất. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà S đều không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh bà S có quyền sử dụng thửa đất 1343 nói trên.
Từ những phân tích nêu trên, HĐXX xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Kiều Thị S về việc tranh chấp quyền sử dụng đối với diện tích đất 17.079m² thuộc thửa số 1343, tờ bản đồ địa chính số 18 của UBND xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
[6] Về chi phí thẩm định, định giá: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kiều Thị S nên bà S phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá, trích đo vẽ chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính là 7.000.000₫ (bảy triệu đồng) và bà S đã nộp đủ.
[7] Về án phí: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kiều Thị S nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Vì bà S là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 12, Điều 166 Luật đất đai năm 2013.
- Điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kiều Thị S về việc tranh chấp quyền sử dụng đối với diện tích đất 17.079m² thuộc thửa đất số 1343, tờ bản đồ địa chính số 18 của UBND xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá tài sản, trích đo vẽ chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính là 7.000.000đ (bảy triệu đồng), nguyên đơn bà Kiều Thị S phải chịu. Bà Kiều Thị S đã nộp đủ chi phí tố tụng.
- Về án phí: Do nguyên đơn bà Kiều Thị S là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt người nguyên đơn, người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bị đơn -được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2024).
(Kèm theo trích đo vẽ chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính ngày 15/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N-chi nhánh huyện N).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Xuân Thủy |
Bản án số 40/2024/DS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 40/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
