|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/DS-ST Ngày: 26 - 4 - 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Chánh;
- Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 469/2022/TLST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần P.
Địa chỉ trụ sở: Số D (Tầng trệt, tầng lửng, tầng 1, tầng 2 của Tòa nhà) và số D L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Đỗ Duy L, sinh năm: 1986.
Địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà T, A T, khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn:
- Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1992.
- Chị Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm: 1994.
Địa chỉ thường trú: Thôn V, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
Hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam B, Công an tỉnh B.
Địa chỉ: Tổ F, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên hệ: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
(các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 0159/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 29 tháng 4 năm 2021 với Ngân hàng TMCP P (O) để vay vốn, chi tiết như sau:
Số tiền vay: 950.000.000 đồng (Chín trăm năm mươi triệu đồng);
Mục đích vay: Vay thanh toán tiền mua xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0 Bản cao cấp, BKS 60A-957.06, Lắp ráp tại Việt Nam, mới 100% sản xuất năm 2021;
Thời hạn vay: 96 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên;
Lãi suất vay:
Tiền lãi được tính trên trên cơ sở 1 năm là 365 ngày. Số tiền lãi phải trả = (số dư nợ thực tế tính lãi) x (Số ngày thực tế của kỳ tính lãi) x (Lãi suất (%/năm)): 365.
Lãi suất cho vay trong hạn: Theo thỏa thuận tại Khế ước nhận nợ: Lãi suất vay 8,2%/năm cố định trong 12 tháng đầu. Từ tháng thứ 13 trở đi: Lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần (sau đây gọi là Kỳ điều chỉnh lãi suất), kỳ điều chỉnh lãi suất đầu tiên vào ngày 29 tháng 4 năm 2022 với công thức tính lãi suất như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở (1) + biên độ tối thiểu (2) trong đó:
Lãi suất cơ sở (1): là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất OCB ban hành từng thời kỳ.
Biên độ lãi suất (2): Tối thiểu 4,5%/năm.
Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn;
Việc giải ngân được thực hiện thông qua Khế ước nhận nợ số: 0159.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 29 tháng 4 năm 2021.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng số 0159/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 29 tháng 4 năm 2021 và các Khế ước nhận nợ đã được ký kết giữa OCB với anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1.
Khoản vay trễ nợ vào ngày 15 tháng 7 năm 2021. Từ ngày giải ngân đến thời điểm hiện tại, anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 đã thanh toán cho OCB tổng số tiền là: 30.547.893 đồng, trong đó nợ gốc là: 19.792.000 đồng, nợ lãi là: 10.755.893 đồng.
Tổng nghĩa vụ nợ của anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 tại OCB phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 0159/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 29 tháng 4 năm 2021 và các Khế ước nhận nợ đã được ký kết tạm tính đến ngày 18 tháng 12 năm 2023 là 1.303.499.451 đồng, trong đó:
Nợ gốc: 930.208.000 đồng;
Nợ lãi : 373.291.451 đồng (gồm: lãi trong hạn: 263.483.688 đồng, lãi quá hạn: 109.807.763 đồng).
Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến nay anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 vẫn không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng. Vì vậy, anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ và các cam kết đã ký kết với OCB.
Ngân hàng TMCP P yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết những nội dung sau:
Buộc anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 trả cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ của Hợp đồng tín dụng số 0159/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 29 tháng 4 năm 2021 và các Khế ước nhận nợ đã được ký kết tạm tính đến ngày 18 tháng 12 năm 2023 là 1.303.499.451 đồng (Bằng chữ: Một tỷ ba trăm lẻ ba triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng) trong đó: Nợ gốc là 930.208.000 đồng, N lãi là 373.291.451 đồng (gồm: lãi trong hạn: 263.483.688 đồng, lãi quá hạn: 109.807.763 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ đã ký kết từ ngày 19 tháng 12 năm 2023 cho đến khi anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P. Thanh toán một lần toàn bộ số tiền ngay sau khi quyết định/bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Theo bản tự khai và biên bản làm việc, bị đơn chị Nguyễn Thị Thu T1 trình bày:
Anh Nguyễn Hữu T và chị đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 0159/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 29 tháng 4 năm 2021 với Ngân hàng TMCP P (O) để vay vốn, chi tiết như sau:
Số tiền vay: 950.000.000 đồng (Chín trăm năm mươi triệu đồng);
Mục đích vay: Vay thanh toán tiền mua xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0 Bản cao cấp, BKS 60A-957.06, Lắp ráp tại Việt Nam, mới 100% sản xuất năm 2021;
Thời hạn vay: 96 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên;
Lãi suất vay đúng như thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã cung cấp.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng anh Nguyễn Hữu T và chị đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng số 0159/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 29 tháng 4 năm 2021 và các Khế ước nhận nợ đã được ký kết giữa các bên.
Khoản vay trễ nợ vào ngày 15 tháng 7 năm 2021. Từ ngày giải ngân đến thời điểm hiện tại, anh Nguyễn Hữu T và chị đã thanh toán cho OCB tổng số tiền là: 30.547.893 đồng, trong đó nợ gốc là: 19.792.000 đồng, nợ lãi là: 10.755.893 đồng.
Nay, Ngân hàng O khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị thanh toán khoản vay tạm tính đến ngày 18 tháng 12 năm 2023 là 1.303.499.451 đồng, (trong đó: Nợ gốc: 930.208.000 đồng; Lãi trong hạn: 263.483.688 đồng và lãi quá hạn: 109.807.763 đồng); tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 19 tháng 12 năm 2023 thì chị đồng ý. Tuy nhiên, do vợ chồng chị làm ăn thất bại nên không có khả năng trả ngay số tiền trên. Chị đề nghị Ngân hàng cho chị trả 3.000.000 đồng/tháng đối với số nợ gốc cho đến khi thanh toán xong số nợ gốc; còn số tiền lãi thì đề nghị Ngân hàng hỗ trợ vì hiện nay anh T đã đi tù và chị đang nuôi con nhỏ. Đối với chiếc xe ô tô thế chấp cho Ngân hàng thì anh T là người sử dụng và hiện nay không biết đang ở đâu.
Theo biên bản làm việc, bị đơn anh Nguyễn Hữu T trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Thu T1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 0159/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 29 tháng 4 năm 2021 với Ngân hàng TMCP P (O) để vay vốn, chi tiết như sau:
Số tiền vay: 950.000.000 đồng (Chín trăm năm mươi triệu đồng);
Mục đích vay: Để mua xe ô tô;
Thời hạn vay: 96 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên;
Lãi suất vay đúng như thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã cung cấp.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng anh và chị T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo như thỏa thuận giữa các bên. Từ ngày giải ngân đến thời điểm hiện tại, anh và chị T1 đã thanh toán cho OCB tổng số tiền là: 30.547.893 đồng, trong đó nợ gốc là: 19.792.000 đồng, nợ lãi là: 10.755.893 đồng.
Nay, Ngân hàng O khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh thanh toán khoản vay tạm tính đến ngày 18 tháng 12 năm 2023 là 1.303.499.451 đồng, (trong đó: Nợ gốc: 930.208.000 đồng; Lãi trong hạn: 263.483.688 đồng và lãi quá hạn: 109.807.763 đồng); tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 19 tháng 12 năm 2023 thì anh đồng ý. Tuy nhiên, do vợ chồng anh làm ăn thất bại nên không có khả năng trả ngay số tiền trên. Anh đề nghị Ngân hàng cho chị T1 trả 3.000.000 đồng/tháng đối với số nợ gốc cho đến khi thanh toán xong số nợ gốc; còn số tiền lãi thì đề nghị Ngân hàng hỗ trợ vì hiện nay anh đã đi tù và chị T1 đang nuôi con nhỏ. Đối với chiếc xe ô tô thế chấp cho Ngân hàng thì hiện nay đang bị chủ nợ tạm giữ nhưng anh không nhớ rõ cụ thể chủ nợ nào.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền, xác định tư cách đương sự, quan hệ pháp luật và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định; Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo đảm theo quy định của pháp luật. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, đối chiếu các quy định của pháp luật; có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí và chi phí tố tụng, bị đơn chị Nguyễn Thị Thu T1 và anh Nguyễn Hữu T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về tư cách tố tụng, quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng Thương mại cổ phần P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Hữu T, địa chỉ thường trú: V, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và chị Nguyễn Thị Thu T1, địa chỉ thường trú: Tổ F, ấp L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, trả tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, các điều 35, 39, 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 14, 16 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Ngân hàng Thương mại cổ phần P được xác định là nguyên đơn, anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 được xác định là bị đơn trong vụ án; quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
[1.2] Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự trong vụ án đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Theo lời khai và các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp thể hiện: Ngày 29 tháng 4 năm 2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần P có ký với anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 Hợp đồng tín dụng số 0159/2021/HĐTD-OCB-CN, theo đó, Ngân hàng đồng ý cho anh T, chị T1 vay số tiền: 950.000.000 đồng (Chín trăm năm mươi triệu đồng); Mục đích vay: Vay thanh toán tiền mua xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0 Bản cao cấp, BKS 60A-957.06, Lắp ráp tại Việt Nam, mới 100% sản xuất năm 2021; Thời hạn vay: 96 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; Lãi suất vay: Tiền lãi được tính trên trên cơ sở 1 năm là 365 ngày. Số tiền lãi phải trả = (số dư nợ thực tế tính lãi) x (Số ngày thực tế của kỳ tính lãi) x (Lãi suất (%/năm)): 365. Lãi suất cho vay trong hạn: Theo thỏa thuận tại Khế ước nhận nợ: Lãi suất vay 8,2%/năm cố định trong 12 tháng đầu. Từ tháng thứ 13 trở đi: Lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần (sau đây gọi là Kỳ điều chỉnh lãi suất), kỳ điều chỉnh lãi suất đầu tiên vào ngày 29 tháng 4 năm 2022 với công thức tính lãi suất như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở (1) + biên độ tối thiểu (2) trong đó: Lãi suất cơ sở (1): là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất OCB ban hành từng thời kỳ. Biên độ lãi suất (2): Tối thiểu 4,5%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn; Việc giải ngân được thực hiện thông qua Khế ước nhận nợ số: 0159.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 29 tháng 4 năm 2021.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, tính đến ngày 15 tháng 7 năm 2021, anh T và chị T1 đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P tổng số tiền là: 30.547.893 đồng, trong đó nợ gốc là: 19.792.000 đồng, nợ lãi là: 10.755.893 đồng. Tuy nhiên, sau đó thì anh T, chị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng đã thỏa thuận. Vì vậy, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc của anh T, chị T1 sang nợ quá hạn.
Ngân hàng Thương mại cổ phần P khởi kiện yêu cầu bị đơn anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 trả cho Ngân hàng tổng số nợ gốc và lãi tính đến ngày 18 tháng 12 năm 2023 là 1.303.499.451₫ (Bằng chữ: Một tỷ ba trăm lẻ ba triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng) trong đó: Nợ gốc là 930.208.000 đồng, N lãi là 373.291.451 đồng (gồm: lãi trong hạn: 263.483.688 đồng, lãi quá hạn: 109.807.763 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ đã ký kết từ ngày 19 tháng 12 năm 2023 cho đến khi anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P.
Xét thấy, việc các bên ký kết Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ là tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên phù hợp với các quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp thể hiện bị đơn anh T, chị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ như thỏa thuận giữa các bên. Đồng thời, phía bị đơn anh T, chị T1 cũng thừa nhận việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ và cũng đồng ý đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.
Vì vậy, ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong vụ án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P về việc buộc bị đơn anh Nguyễn Hữu T, chị Nguyễn Thị Thu T1 trả cho Ngân hàng tổng số nợ gốc và lãi tính đến ngày 18 tháng 12 năm 2023 là 1.303.499.451đ (Bằng chữ: Một tỷ ba trăm lẻ ba triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng) trong đó: Nợ gốc là 930.208.000 đồng, N lãi là 373.291.451 đồng (gồm: lãi trong hạn: 263.483.688 đồng, lãi quá hạn: 109.807.763 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ đã ký kết từ ngày 19 tháng 12 năm 2023 cho đến khi anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P.
Đối với tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0 Bản cao cấp, BKS 60A-957.06, Lắp ráp tại Việt Nam, mới 100% sản xuất năm 2021, phía nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về chi phí tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 phải chịu 10.000.000đ (mười triệu đồng) chi phí tố tụng. Do nguyên đơn đã đóng tạm ứng nên buộc bị đơn có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn số tiền này.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên cần chấp nhận.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, 35, 39, 68, khoản 1 Điều 147, Điều 180, Điều 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 4, 90, 91, 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các điều 116, 117, 385, 463, 466, 468 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bị đơn anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P tổng số tiền tính đến ngày 18 tháng 12 năm 2023 là 1.303.499.451đ (một tỷ ba trăm lẻ ba triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng) trong đó: Nợ gốc là 930.208.000 đồng, N lãi là 373.291.451 đồng (gồm: lãi trong hạn: 263.483.688 đồng, lãi quá hạn: 109.807.763 đồng).
Kể từ ngày 19 tháng 12 năm 2023 cho đến khi thi hành xong số tiền trên, bị đơn anh Nguyễn Hữu T, chị Nguyễn Thị Thu T1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận của các Hợp đồng tín dụng, K ước nhận nợ đã được ký kết giữa các bên. Trường hợp các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) chi phí tố tụng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P.
- Về án phí: Anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 phải chịu 51.104.983đ (năm mươi mốt triệu một trăm lẻ bốn nghìn chín trăm tám mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P số tiền 21.414.279₫ (hai mươi mốt triệu bốn trăm mười bốn nghìn hai trăm bảy mươi chín nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003249 ngày 13 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Bảo |
Bản án số 40/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 40/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP P yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết những nội dung sau: Buộc anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 trả cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ của Hợp đồng tín dụng số 0159/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 29 tháng 4 năm 2021 và các Khế ước nhận nợ đã được ký kết tạm tính đến ngày 18 tháng 12 năm 2023 là 1.303.499.451 đồng (Bằng chữ: Một tỷ ba trăm lẻ ba triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng) trong đó: Nợ gốc là 930.208.000 đồng, N lãi là 373.291.451 đồng (gồm: lãi trong hạn: 263.483.688 đồng, lãi quá hạn: 109.807.763 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ đã ký kết từ ngày 19 tháng 12 năm 2023 cho đến khi anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Thu T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P. Thanh toán một lần toàn bộ số tiền ngay sau khi quyết định/bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
