|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 40/2023/HS-ST
Ngày: 05-12-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Trần Thị Năm
Ông Phùng Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/QĐ-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T, Sinh ngày 07/11/2000; Nơi sinh: xã N, huyện T, tỉnh Long An; Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con của ông Nguyễn Minh C và bà Võ Thị B; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 30/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 22/8/2022, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/10/2023, đến ngày 13/10/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Long An (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Trương Minh Đ, sinh ngày: 08/8/1995. Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Thanh S, sinh ngày 01/01/1987. Địa chỉ: ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
- + Ông Lương Văn M, sinh ngày: 01/11/1967. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Anh Nguyễn Duy K, sinh ngày: 05/11/2000. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/10/2023, Nguyễn Minh T đi bộ trên đường đan thuộc đường hẻm Ngân hàng A chi nhánh xã H theo hướng từ tỉnh lộ 837 đến Trường mầm non H thì nhìn thấy nhà xe của Công an xã H khép hờ, không khóa, bên trong có nhiều xe mô tô nên nảy sinh ý định đột nhập vào trộm cắp xe mô tô mang đi bán lấy tiền tiêu xài, T đi lại dùng tay nắm kéo mở cửa cổng rào ra và đi vào bên trong, thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu EXCITER 150, màu đỏ, biển số 62F1-181.73 của ông Trương Minh Đ (cán bộ Công an xã H), có gắn chìa khóa sẵn trên ổ khóa xe nên T đi lại tiếp cận dẫn xe đi bộ ra ngoài, đi theo đường đan hẻm Ngân hàng A hướng ra tỉnh lộ 837, đi được khoảng 20m, T lên xe mở chìa khóa định chạy đi thì còi chống trộm gắn trên xe hú lên. Lúc này, lực lượng Công an - quân sự xã H phát hiện truy đuổi theo, T dựng chân chống giữa để xe lại trên đường đan và chạy bộ hướng ra tỉnh lộ 837 và hướng xuống xã N, đến đoạn trước Trung tâm N, T lấy cái áo khoác màu đen đang để trên xe mô tô của ông Lê Thanh S mặc vào người nhằm mục đích thay đổi đặc điểm nhận dạng thì bị Công an xã H bắt giữ. Qua điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Tại Bản Kết luận Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự số 54/KL-HĐÐG ngày 09/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, biển số 62F1- 181.73, số khung: 1010JY043645, số máy: G3D4E809084, trị giá 26.400.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 1094/KL-KTHS ngày 26/10/2023 của phòng K1 Công an tỉnh L. Kết luận: Đoạn video có tên “Vụ TCTS 07.10.2023.mp4" có kích thước (dung lượng): 25.3 MB, chiều dài 6730 khung hình ảnh với thời lượng 04 phút 30 giây, 155 mili giây trong đĩa DVD (Trích xuất từ camera giám sát an ninh tại khu vực nhà xe của Công an xã H) không phát hiện chỉnh sửa, cắt ghép.
Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKSTT, ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Nguyễn Minh T gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Về hình phạt chính: căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; các điều 38, 50 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng trong vụ án: Đối với 01 đĩa DVD lưu đoạn video có tên “Vụ TCTS 07.10.2023.mp4" có kích thước (dung lượng): 25.3 MB, chiều dài 6730 khung hình ảnh với thời lượng 04 phút 30 giây, 155 mili giây (Trích xuất từ camera giám sát an ninh tại khu vực nhà xe của Công an xã H). Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử lưu hồ sơ chính vụ án.
Về hình phạt bổ sung: đại diện Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên đại diện Viện kiểm sát không đề nghị về trách nhiệm dân sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản theo Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; giấy triệu tập phiên tòa cho người làm chứng. hồ sơ vụ án đã thể hiện đầy đủ lời khai của những người vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng trong vụ án.
[3] Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/10/2023, tại trụ sở Công an xã H, huyện T, tỉnh Long An, Nguyễn Minh T lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, biển số 62F1-181.73 của anh Trương Minh Đức trị g 26.400.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện do nảy sinh lòng tham khi nhìn thấy tài sản của bị hại. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố bị cáo với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm tài sản thuộc quyền quản lý, sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất an ninh trật tự địa phương. Hiện nay, tình hình tội phạm “Trộm cắp tài sản” xảy ra trên địa bàn huyện ngày càng gia tăng, gây bức xúc trong nhân dân. Do đó, hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trên cơ sở xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[4.1] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 22/8/2022, chưa được xóa án tích. Đến ngày 07/10/2023 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”. Do đó, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, bị cáo có 01 tình tiết tăng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
[4.2] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4.3] Về nhân thân:
Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án như đã nêu trên, không có tiền sự.
[5] Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nhưng đến ngày 07/10/2023 lại tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”. Qua đó, thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Từ những phân tích trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng căn cứ pháp luật, về hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 07/10/2023 cho đến nay. Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[8] Về hình phạt bổ sung: theo quy định khoản 5 điều 173 BLHS, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có tài sản riêng; bị cáo có nghề nghiệp làm thuê, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về vật chứng trong vụ án:
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, biển số 62F1-181.73; số máy: G3D4E809084, số khung: 1010JY043645, thuộc sở hữu của Trương Minh Đ. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý tài sản trả lại chủ sở hữu Trương Minh Đ là đúng quy định pháp luật.
- - Đối với 01 cái áo khoác dài tay, màu đen, trên tay áo có chữ NO.1, phía trước ngực áo bên trái có chữ “DOGN ORIOINĀLS của Lê Thanh S. Qua làm việc xác định khi bị cáo T lấy trộm tài sản bị truy đuổi bắt, T đã lấy cái áo của anh S (để trên xe moto của anh S đậu phía trước của Trung tâm nông sản nơi anh S làm việc) để mặc vào nhằm thay đổi đặc điểm nhận dạng nhằm tránh sự truy bắt của lực lượng Công an. Anh S không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” của T. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý tài sản trả lại chủ sở hữu là anh Lê Thanh S là đúng quy định của pháp luật.
- - Đối với 01 đĩa DVD lưu trữ đoạn video có kích thước (dung lượng): 25.3 MB, chiều dài 6730 khung hình ảnh với thời lượng 04 phút 30 giây, 155 mili được trích xuất từ Camera giám sát an ninh tại khu vực nhà xe của Công an xã H nên cần tiếp tục lưu giữ kèm theo trong hồ sơ chính vụ án.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trương Minh Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ vụ án đã có văn bản trình bày ý kiến thể hiện bị hại đã nhận lại được tài sản mà bị cáo chiếm đoạt. Bị hại không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Thanh S đã nhận lại tài sản là áo khoác nên không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các điều 38, 50 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 07/10/2023).
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án (05/12/2023) để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Ánh |
Bản án số 40/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 40/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
