|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2023/HS-PT
Ngày: 26/12/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Doanh và Ông Nguyễn Khánh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Dương Xuân Hổ và bà Vi Thị Thùy, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2023/TLPT-HS, ngày 10/10/2023 Nguyễn Công V do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công V đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HS-ST, ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
* Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Công V, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 8 năm 1975 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công H và bà Đinh Thị X; Bị cáo có vợ là Ân Thị H1 và có 01 con sinh năm 2008; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 21/4/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Bản án số: 07/1999/HSST, đã được xóa án tích; Ngày 17/3/2000 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người”, theo Bản án số 10/HSST ngày 25/10/2000 bị Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội “Giết người” theo Bản án HSPTsố: 2278, đã được xóa án tích; ngày 21/10/2014 bị Trưởng Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định số: 250/QĐ - XPVPHC; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/5/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo:
Ông Vũ Đình L - Luật sư Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: Số H TT4, khu đô thị T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại và đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Văn H2, sinh năm 1994; Trú tại: Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. (Có mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lục Thị Ngọc D, sinh năm 1986; Trú tại: Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn N, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1986; Trú tại: Xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1993; Trú tại: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt tại phiên tòa)
* Người làm chứng:
- Anh Hoàng Hùng S1, sinh năm 1988; Trú tại: Xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Anh Triệu Khái D1, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Anh Dương Văn H3, sinh năm 1995; Trú tại: Tổ E, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 28/12/2022, Nguyễn Công V sau khi ăn cơm, uống rượu xong thì đi xuống quán của chị Lục Thị Ngọc D tại thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để uống nước. Khi lên đến quán thì có Phạm Văn H2 đang ngồi ăn lẩu, uống rượu cùng với Nguyễn Văn S, Hoàng Văn B, Hoàng Hùng S1 và Hoàng Văn T trong quán. V gọi bia ra uống và ngồi ở bàn đầu tiên cạnh cửa ra vào. Khi đang ngồi uống nước, V có nghe thấy tiếng chửi bới, nhưng không biết chửi ai và nội dung chửi như nào. Nghe vậy V đi vào phía quầy chị D lấy một chiếc kéo ý định xem có ai chạy ra thì phòng thân. Chị D thấy vậy đã đòi lại kéo, do biết tính của V hay gây sự nên bảo V đi về. Sau khi về đến nhà, khoảng 20 giờ 05 phút cùng ngày V điều khiển xe máy quay lại quán chị D và có cầm theo một con dao bằng kim loại dài 54 cm, màu nâu đen, cán dao bằng gỗ, dài 17cm, chỗ rộng nhất 6,2cm mà V dắt ở xe máy từ chiều khi đi rừng về tiến đến phía trước bàn thanh toán tiền của D đang ngồi chỉ dao về phía D nói: “Mày thích gì?”, rồi đi thẳng đến bàn của Hoàng n, tay phải cầm dao chém thẳng về phía người H2 theo hướng từ trên xuống dưới. Khi đó, H2 đã quay mặt về phía V và hơi ngửa người ra sau, giơ tay trái lên đỡ thì bị dao chém trúng vào cẳng tay trái gây thương tích. Sau đó, V tiếp tục vung dao chém về phía H2, nên H2 vừa lùi lại phía sau vừa giơ tay lên đỡ thì bị dao chém sượt qua mu bàn tay phải gây thương tích. Đồng thời, H2 cầm lấy chiếc ghế nhựa vừa ngồi giơ lên đỡ, đẩy V lùi lại, nhưng V vẫn tiếp tục cầm dao lao vào chém H2, nên H2 đã cầm ghế đập về phía V ngăn không cho V lao vào gần chém. Thấy V lao vào chém T, B, S mỗi người cầm lấy một chiếc ghế đập về phía V, ngăn không cho V chém H2, đồng thời đỡ dao V chém đến (Còn S1 thì do bất ngờ nên ngồi lại tại chỗ quan sát toàn bộ sự việc, không dám đứng dậy). Sau đó B cầm ghế đập trúng tay phải của V một phát nên V cầm dao định chém về phía B, khiến B bỏ chạy ra hướng ngoài cổng quán, V cầm dao đuổi ra theo sau B. Thấy vậy, T cầm theo một ghế khung bằng kim loại, phần chỗ ngồi và tựa bằng gỗ màu vàng, H2 cầm theo một chiếc ghế có khung bằng kim loại, phần tựa và ngồi bằng nhựa màu xanh, S cầm theo một ghế nhựa màu nâu chạy theo sau V ra ngoài cổng quán. Ra đến ngoài sân đất phía trước quán, B chạy ra đường theo hướng đi Ủy ban nhân dân xã Q, T chạy theo sau V đến sân trước quán dùng ghế vụt về phía V nhưng bị vấp và ngã về phía sau. Tiếp đó H2 chạy ra ngay sau T, thấy V cầm dao định chém về phía T, nên dùng hai tay cầm vào phần tựa lưng của ghế nhựa vụt từ trên xuống dưới về phía V nhiều lần (Bốn đến năm lần); khi đó, V cũng cầm dao lao vào vung chém về phía H2 thì bị ghế đập trúng vào vùng đầu, mặt và tay của V gây thương tích. Đồng thời T, S cũng dùng ghế đang cầm trên tay vụt vào lưng của V với ý định ngăn không cho V lao vào chém H2. Sau đó, H2 áp sát định ôm V để giành lấy dao nhưng không được, nên đã bỏ ghế chạy đi chỗ khác. Khoảng 10 phút sau thì Công an xã Q có mặt tại nơi xảy ra sự việc để làm việc.
Tại biên bản xem xét dấu vết thân thể đối với Phạm Văn H2 lập hồi 21 giờ 20 phút ngày 28/12/2022 tại Trạm y tế xã Q, huyện C xác định Phạm Văn H2 có các vết thương:
- Tại mu bàn tay phải có vết rách dài 04cm, có chiều sâu khoảng 01cm, vết thương có tình trạng chảy máu nhiều.
- Tại cẳng tay trái có vết rách dài 06cm, có chiều sâu khoảng 0,5cm, vết thương có tình trạng chảy máu nhiều.
Tại biên bản xem xét dấu vết thân thể đối với Nguyễn Công V lập hồi 11 giờ 00 phút ngày 29/12/2022 tại Trạm y tế xã Q, huyện C xác định Nguyễn Công V có các vết thương:
- Vết thương vùng trán trái rách da dài 02cm, sâu 02cm
- Vết thương vùng trán phải rách 02cm, xước dài 02cm.
- Chấn thương vùng cẳng tay trái bầm tím mặt ngoài, trầy xước da dài 04cm; Vết thương rách da mặt trong cánh tay trái dài 3,5cm. Trên môi trên có vết trầy xước kích thước 0,5cm x 0,5cm, phần trán bên phải có một vết trầy xước da dài 01cm.
Ngày 29/12/2022, Phạm Văn H2 có đơn yêu cầu giải quyết, xử lý hành vi gây thương tích đối với Nguyễn Công V theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 30/Tgt ngày 19/01/2023 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở y tế tỉnh B kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn H2 như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo vết thương phần mềm ở mặt trước, 1/3 giữa cẳng tay trái, kích thước: 6,2cm x 0,3cm, theo Chương 8 - Mục I - Khoản 2, tỷ lệ phần trăm TTCT là: 2%.
- Sẹo vết thương phần mềm ở mặt mu liên đốt bàn ngón 5 tay phải, kích thước: 2cm x 0,3cm, theo Chương 8 - Mục I - Khoản 1, tỷ lệ phần trăm TTCT là: 1%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 2,98% làm tròn số là: 3% (Ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Cơ chế hình thành vết thương: Vật gây thương tích là vật sắc./.”.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 29/Tgt ngày 19/01/2023 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở y tế tỉnh B kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Công V như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo vết thương phần mềm ở vùng trán phải, kích thước: 1,5cm x 0,2cm, theo Chương 8 - Mục I - Khoản 1, tỷ lệ phần trăm TTCT là: 3%;
- Sẹo vết thương phần mềm ở vùng trán phải, kích thước: 2cm x 0,3cm, theo Chương 8 - Mục I - Khoản 1, tỷ lệ phần trăm TTCT là: 3%;
- Sẹo vết thương phần mềm ở vùng trán trái, kích thước: 1,5cm x 0,1cm, theo Chương 8 - Mục I - Khoản 1, tỷ lệ phần trăm TTCT là: 3%;
- Sẹo vết thương phần mềm ở môi trên rãnh nhân trung, kích thước: 1cm x 0,5cm, theo Chương 8 - Mục I - Khoản 1, tỷ lệ phần trăm TTCT là: 3%;
- Sẹo vết thương phần mềm ở mặt trước ngoài, 1/3 trên cẳng tay trái, kích thước: 1,5cm x 0,2cm, theo Chương 8 - Mục I - Khoản 1, tỷ lệ phần trăm TTCT là: 1%;
- Sẹo vết thương phần mềm ở mặt trước trong, 1/3 giữa cẳng tay trái, kích thước: 3cm x 0,2cm, theo Chương 8 - Mục I - Khoản 1, tỷ lệ phần trăm TTCT là: 1%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 13,21%, làm tròn số 13% (Mười ba phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Cơ chế hình thành vết thương: Không xác định được vật gây thương tích./.".
Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KL- HĐĐGTS ngày 05/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:
- 01 (Một) chiếc ghế nhựa màu nâu, nhãn hiệu VIET NHAT PLASTIC, ghế bị gãy, vỡ thành nhiều mảnh, 01 (Một) ghế có khung bằng sắt ốp nhựa màu xanh, gãy nhựa chỗ ngồi thành 03 (Ba) mảnh, phần khung sắt chỗ ngồi và chân ghế đã méo mó trị giá tại thời điểm ngày 28/12//2022 trị giá 40.000₫ (Bốn mươi nghìn đồng).
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyễn Công V khai nhận không được dùng dao gây thương tích cho Phạm Văn H2 tại vị trí trong quán của Lục Thị Ngọc D, mà khẳng định những thương tích của H2 là do lúc H2 dùng ghế đập về phía đầu V nhiều lần ở ngoài sân quán thì V có giơ dao lên đỡ thì H2 bị dao của V quyệt trúng tay gây thương tích, bản thân V không được vung dao chém H2.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HS-ST, ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn căn cứ vào điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Công V 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, Điều 590 Bộ luật dân sự. Bị cáo Nguyễn Công V phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Phạm Văn H2 tổng số tiền 4.500.000 đồng; Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, Điều 590 và Điều 594 Bộ luật Dân sự. Anh Phạm Văn H2 phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị cáo Nguyễn Công V tổng số tiền 3.000.000 đồng. Việc thi hành khoản tiền bồi thường được thực hiện theo Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/9/2023 bị cáo Nguyễn Công V kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo; Xác minh làm rõ nguyên nhân dẫn đến hành vi gây thương tích, ý thức chủ quan, động cơ mục đích phạm tội của bị cáo và của nhóm người Phạm Văn H2, trên cơ sở đó khởi tố Phạm Văn H2 về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Ngày 22/9/2023, bị cáo có đơn kháng cáo bổ sung, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ điều tra bổ sung làm rõ nguyên nhân, diễn biến vụ án, ý thức chủ quan, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo và của nhóm bạn Phạm Văn H2, khởi tố Phạm Văn H2 về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngày 26/12/2023 bị hại Phạm Văn H2 có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Nguyễn Công V. Tại phiên tòa, anh H2 đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án, khẳng định việc xin rút yêu cầu khởi tố vụ án và khới tố bị can đối với Nguyễn Công V là hoàn toàn tự nguyện. Đồng thời, anh H2 không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường trách nhiệm dân sự đối với thương tích của anh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi nghe ý kiến của bị hại, bị cáo Nguyễn Công V xin rút toàn bộ nội dung đã kháng cáo và không yêu cầu anh Phạm Văn H2 phải bồi thường trách nhiệm dân sự đối với thương tích của bị cáo.
Người bào chữa của bị cáo phát biểu quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật do bị hại đã rút yêu cầu khởi tố vụ án và khởi tố bị can.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm: Bị hại đã rút yêu cầu khởi tố vụ án và khởi tố bị can, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 155; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HS-ST, ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn và đình chỉ vụ án.
- Việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm, nên bị cáo Nguyễn Công V không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
- Bị cáo Nguyễn Công V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo đảm bảo về chủ thể và thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được HĐXX xem xét theo quy định.
[2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Công V đều không thừa nhận việc dùng dao chém gây thương tích cho Phạm Văn H2 tại vị trí trong quán của chị Lục Thị Ngọc D ngày 28/12/2022. Bị cáo khẳng định những thương tích của H2 là do lúc H2 dùng ghế đập về phía đầu bị cáo nhiều lần tại vị trí ngoài sân quán chị D, khi đó bị cáo đưa dao lên đỡ mới gây thương tích cho H2 03%. Tại vị trí ngoài sân quán, Phạm Văn H2 dùng ghế đập trúng vào phần đầu, mặt và tay của bị cáo Nguyễn Công V gây thương tích cho bị cáo là 13%.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Phạm Văn H2 có ý kiến xin rút yêu cầu khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Nguyễn Công V, đồng thời không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường trách nhiệm dân sự đối với thương tích của anh. Bị cáo Nguyễn Công V thừa nhận hành vi gây thương tích cho bị hại Phạm Văn H2, đồng thời xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo và không yêu cầu anh H2 phải bồi thường trách nhiệm dân sự đối với thương tích của bị cáo.
Xét thấy việc rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Phạm Văn H2 đối với bị cáo Nguyễn Công V là hoàn toàn tự nguyện, bị cáo đã rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Theo quy định tại Điều 282 Bộ luật Tố tụng Hình sự, thì không giới hạn về thời điểm mà người đã yêu cầu khởi tố vụ án rút yêu cầu. Do đó, việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại Phạm Văn H2 là phù hợp, nên chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên và Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công V, áp dụng khoản 2 Điều 155, Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HS-ST, ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn và đình chỉ vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2023/TLPT-HS, ngày 10/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn đối với bị cáo Nguyễn Công V.
Lý do hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm, nên bị cáo Nguyễn Công V không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Bị cáo Nguyễn Công V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn tiến hành lập thủ tục để xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Nguyễn Công V về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 155; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HS-ST, ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn và đình chỉ vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2023/TLPT-HS, ngày 10/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn đối với bị cáo Nguyễn Công V bị cấp sơ thẩm truy tố, xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm, nên bị cáo Nguyễn Công V không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
- Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn tiến hành lập thủ tục để xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Nguyễn Công V về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
- Bị cáo Nguyễn Công V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Quang Huy |
Bản án số 40/2023/HS-PT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 40/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công V phạm tội “Cố ý gây thương tích”
