|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 40/2023/DS-PT Ngày: 27-12-2023 V/v: “Tranh chấp về kiện đòi lại tài sản, buộc tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trái phép” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Ngân
Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2023/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp về kiện đòi lại tài sản, buộc tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trái phép”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXX-PT ngày 15 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- - Ông Lê Văn N; sinh năm: 1959
- - Bà Lê Thị H; sinh năm: 1968
Đều có địa chỉ: Số E, đường T, khối phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị H: Ông Lê Văn N (Theo văn bản ủy quyền ngày 06/01/2022). Có mặt.
- Bị đơn:
- - Ông Trương Vĩnh T; sinh năm: 1951
- - Bà Lê Thị N1; sinh năm: 1957
Đều có địa chỉ: Số B, đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Đều vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1: Ông Trần Hậu Đ (Theo văn bản ủy quyền ngày 8/11/2023); địa chỉ: Tổ C, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP N3; Địa chỉ: Số A, T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: bà Dương Thị Lan P, sinh năm 1981; Nghề nghiệp: Phó giám đốc Ngân hàng V1 - chi nhánh H1; Địa chỉ: Số B, N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
4. Người làm chứng: Ông Hồ Văn S; sinh năm: 1974
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
5. Người kháng cáo: Ông Trương Vĩnh T và bà Lê Thị N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Văn N, bà Lê Thị H trình bày:
Năm 2001 ông Lê Văn N, bà Lê Thị H có mua của ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 một thửa đất bám đường N, thuộc tổ A, phường T, thành phố H với giá 40.000.000 đồng, khi đó hai bên chỉ đo sơ qua, chưa ký xác nhận tại chính quyền địa phương, chỉ thỏa thuận chuyển nhượng phần diện tích đất thực tế đang sử dụng. Sau một thời gian ông Lê Văn N đã xây hàng rào và xây ki ốt tạm để làm kho cát vật liệu xây dựng. Thời gian đó gia đình ông T đang nợ Ngân hàng nên không làm thủ tục chuyển nhượng được. Sau khi ông N đứng ra trả khoản nợ vay cho ông T tại Ngân hàng, thì ông T, ông N thống nhất làm các thủ tục để chuyển nhượng thửa đất. Ban đầu ông T đi hỏi thủ tục chuyển nhượng thì về nói với ông N là chỉ được chuyển nhượng phần đất nằm ngoài diện tích quy hoạch, còn phần đất nằm trong diện tích đất quy hoạch không được chuyển nhượng. Lúc đó ông Trương Vĩnh T thỏa thuận là khi giải phóng mở đường Nguyễn Công T1 diện tích đất bị thu hồi được bồi thường thì để ông N được nhận tiền đền bù nên ông N đã ký vào các giấy tờ do ông T đưa cho. Tuy nhiên, thời điểm này hai bên chưa đưa biên bản chuyển nhượng đến chứng thực tại UBND phường T, thị xã H (nay là thành phố H). Do ông N thắc mắc, không đồng ý nên đã đến Sở T7 để hỏi thì được biết cho phép chuyển nhượng cả phần diện tích đất nằm trong quy hoạch nhưng không được xây dựng mới trên phần đất quy hoạch. Khi đó ông N về nói với ông T thì ông T bảo ông N có trách nhiệm đi làm thủ tục chuyển nhượng và được ông N đồng ý. Ngày 9/7/2003 hai bên thống nhất làm hồ sơ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cho ông Lê Văn N và ký thỏa thuận chuyển quyền sử dụng đất và các giấy tờ liên quan. Nội dung thỏa thuận, ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 chuyển nhượng cho gia đình ông Lê Văn N thửa đất có diện tích 141m², đất ở, thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 1, tại tổ A, phường T, thành phố H. Ranh giới: phía Bắc giáp đường vào xã T; phía Nam giáp đất ông T2; phía Tây giáp đường Nguyễn Công T1; phía Đông (để trống), đất do cha ông để lại, sử dụng từ năm 1978. Sau khi lập thỏa thuận ông N, ông T đều đồng ý ký tên và mời cán bộ địa chính phường T, thành phố H xuống để kiểm tra, đo đạc, vẽ sơ đồ vị trí thửa đất xin chuyển nhượng, các bên liên quan đã ký đầy đủ vào các giấy tờ và được UBND phường T xác nhận. Ông N đã đưa bộ hồ sơ ký ngày 9/7/2003 nộp cho phường T để chuyển về Phòng tài nguyên và môi trường thành phố H. Ngày 25/02/2004 ông Nguyễn Văn T3 cán bộ địa chính Phòng tài nguyên và môi trường thị xã H (nay là thành phố H) về kiểm tra, đo vẽ thực tế thửa đất xin chuyển nhượng. Sau khi nhận được thông báo nộp thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 03/3/2004 ông N đi kê khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất thì ông Trương Vĩnh T có nói với ông N “ông T là thương binh được miễn giảm thuế, để ông T làm đơn xin miễn, giảm thuế cho ông N”. Khi được ông T làm đơn xin miễn, giảm thuế nên ông N được giảm một phần tiền thuế chuyển nhượng. Ngày 24/5/2004, ông N được UBND thị xã H (nay thành phố H) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ182778 mang tên hộ ông Lê Văn N.
Về biên bản chuyển nhượng đề ngày 18/6/2003, chứng thực ngày 29/7/2003. Văn bản này đã được hai bên thống nhất hủy, khi chưa chứng thực mãi đến ngày 29/7/2003 mới được chứng thực, khi đó hai bên đã thống nhất lập lại biên bản chuyển nhượng vào ngày 9/7/2003 được chứng thực cùng ngày và được nộp tại cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, văn bản ngày 18/6/2003 được chứng thực sau và không được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nên không còn giá trị pháp lý. Hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N đang được thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng TMCP N3 - chi nhánh H1.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do gia đình ông N và ông T rất thân thiết, ông T gặp khó khăn, bản thân ông N đã có nơi ở ổn định chưa cần sử dụng đất nên khi ông T đặt vấn đề mượn tạm thửa đất để mở quán bán hàng, khi cần thì ông T giao lại nên ông N đồng ý. Năm 2005 UBND thành phố H giải phóng mặt bằng mở rộng tuyến đường N giai đoạn I và có thu hồi một phần diện tích đất nằm trong chỉ giới quy hoạch của gia đình ông N. UBND thành phố H đã kiểm đếm và lập danh sách bồi thường chi trả cho gia đình ông N thì ông T tranh chấp, khiếu nại. Ông T khiếu nại ông N có dấu hiệu làm giả chữ ký của ông T để làm hồ sơ chuyển nhượng. Tuy nhiên, kết quả giám định thì chữ ký trong hồ sơ chuyển nhượng là chữ ký của ông T, không có việc giả mạo chữ ký. Sau đó không biết vì lý do gì mà UBND thành phố H lại giải quyết khiếu nại cho ông T được nhận tiền bồi thường. Ông N tiếp tục khiếu nại Quyết định của UBND thành phố H, nhưng mãi không được giải quyết. Sau đó UBND phường T, thành phố H nhiều lần tổ chức hòa giải giữa hai hộ gia đình song không có kết quả. Do vụ án kéo dài nên ông N nộp đơn ra Tòa án để được giải quyết.
Nay ông N, bà H yêu cầu Tòa án buộc ông T, bà N1 phải trả lại tài sản là thửa đất trên cho gia đình ông Lê Văn N và tháo dỡ, di dời các công trình xây dựng trái phép trên đất để trả lại thửa đất cho gia đình ông N, bà H.
- Bị đơn ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 trình bày:
Ngày 29/7/2003 gia đình ông T có bán cho ông Lê Văn N bà Lê Thị H 60m² đất, ranh giới: Đông giáp đất còn lại của ông T, phía Tây giáp mốc 203, phía Nam giáp đất anh T2, B giáp đường vào xã T. Địa chỉ thửa đất thuộc tổ A, phường T, thành phố H, giá chuyển nhượng 40.000.000 đồng. Khi chuyển nhượng phường yêu cầu lập biên bản họp gia đình và bản tường trình nguồn gốc đất ở. Khi đó còn 90m² đất nằm trong chỉ giới quy hoạch mở đường Nguyễn Công T1, ông T, bà N1 không chuyển nhượng và thỏa thuận khi Nhà nước đền bù thì ông T được nhận khoản tiền đền bù này.
Sau đó ông T, ông N đã làm thủ tục chuyển nhượng đầy đủ, ông N đã trả tiền đầy đủ cho vợ ông T là bà Lê Thị N1. Hồ sơ được phô tô làm 3 bản ông T giữ một bản, ông N 1 bản và UBND phường T giữ một bản. Năm 2007 khi hàng xóm đều được nhận tiền đền bù nhưng ông T không có nên ông hỏi ông T4 ở Ban giải phóng mặt bằng thành phố H thì được ông T4 cho một bộ hồ sơ, ông T phát hiện phần đất 90m² đất phía trước đường N nằm trong phần diện tích đất quy hoạch mở đường đã được cấp cho ông N, thời điểm đó Ban giải phóng mặt bằng chưa chi trả tiền bồi thường nên ông T đã khiếu nại đến Thanh tra thành phố H giải quyết việc gia đình ông T bán 60m² đất nhưng hồ sơ cấp đất cho ông N là 141m² đất và hồ sơ làm ngày 09/7/2003 trước 20 ngày khi ông T, ông N thỏa thuận chuyển nhượng.
Việc ông N có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời điểm nào thì ông T không được biết. Sau khi bán đất gia đình ông T vẫn sinh sống tại thửa đất trên cho đến nay. Năm 2007 khi nâng cấp đường N, Ban giải phóng mặt bằng cho rằng do ông N có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã chi trả tiền bồi thường cho ông N là trái với thỏa thuận của ông T với ông N nên ông T đã làm đơn gửi đến các cơ quan chức năng giải quyết và UBND thị xã H đã có Quyết định giải quyết khiếu nại nhưng gia đình ông N không thực hiện. Hiện nay gia đình ông T vẫn đang quản lý, sử dụng thửa đất trên.
Ông T đề nghị hủy hồ sơ cấp đất có diện tích 141m² đất cho ông N vì thực tế giữa ông T và ông N chỉ chuyển nhượng 60m² đất chứ không phải 141m² đất như hồ sơ cấp đất. Nếu ông N đồng ý thực hiện đúng như thỏa thuận trước đây là chuyển nhượng 60m² đất thì ông T đồng ý bàn giao đất, hai bên giải quyết dứt điểm việc thỏa thuận khi Nhà nước đền bù thì ông T được nhận khoản tiền đền bù này. Nếu ông N không đồng ý thì ông T sẽ bán phần 90m² đất của gia đình ông T nằm trong quy hoạch mở đường Nguyễn Công T1 để hợp thức hóa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông N.
- Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP N3, bà Dương Thị Lan P trình bày:
Công ty cổ phần X (giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần - doanh nghiệp: 3000316390, đăng ký thay đổi lần 4 ngày 28/3/2022 do Sở T7 cấp) do ông Lê Văn N là người đại diện theo pháp luật. Hiện Công ty cổ phần X đang vay vốn tại Ngân hàng TMCP N3 – chi nhánh H1. Để đảm bảo cho nghĩa vụ vay vốn, bảo lãnh của Công ty cổ phần X tại Ngân hàng, ông Lê Văn N, bà Lê Thị H đã thế chấp các quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc sỡ hữu của ông Lê Văn N, bà Lê Thị H và Công ty X. Trong số các tài sản thế chấp tại Ngân hàng có thửa đất số 10, tờ bản đồ số 1, tại tổ dân phố A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, diện tích 141,2m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ182778 do UBND thành phố H cấp ngày 24/5/2004 mang tên hộ ông Lê Văn N. Tổng dư nợ vay vốn và số dư bảo lãnh của Công ty cổ phần X tính đến hết ngày 19/9/2023 là 10.125.778.480 đồng. Hiện Công ty đang thực hiện việc vay vốn và trả nợ bình thường, do đó Ngân hàng chưa có yêu cầu gì liên quan đến việc xử lý các tài sản thế chấp, bao gồm tài sản là thửa đất số 10, tờ bản đồ số 1, tại tổ dân phố A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, diện tích 141,2m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ182778 do UBND thành phố H cấp ngày 24/5/2004 mang tên hộ ông Lê Văn N. Do thời gian có những hạn chế nên đại diện Ngân hàng xin được vắng mặt tại phiên tòa.
- Tại bản tự khai người làm chứng ông Hồ Văn S trình bày:
Năm 1999 đến năm 2015, ông Hồ Văn S là cán bộ địa chính của UBND phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng năm 2003 hoặc 2004 thì gia đình ông Trương Vĩnh T làm thủ tục hồ sơ chuyển nhượng một phần đất của gia đình ông T cho ông Lê Văn N. Do thời gian quá lâu nên các thủ tục, hồ sơ chuyển nhượng ông S không nhớ rõ, nhưng thủ tục chuyển nhượng giữa hai bên ông S làm đúng theo quy định của pháp luật. Hồ sơ chuyển nhượng đã được chuyển lên UBND thành phố H để thẩm định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay gia đình ông T và ông N có tranh chấp đối với việc chuyển nhượng thửa đất nói trên thì ông S đề nghị Tòa án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết theo quy định của pháp luật. Vì điều kiện công việc nên ông S đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông.
- Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản xác định:
+ Về thửa đất: theo hiện trạng sử dụng thửa đất có diện tích 110,1m², (trong đó: diện tích đất nằm trong quy hoạch mở đường Nguyễn Công T1 và đường T là 78,8m2, diện tích đất nằm ngoài quy hoạch mở đường là 31,3m²), đất giá 35.000.000đ/m2.
+ Về tài sản trên đất có: 02 nhà tạm cấp 4, theo bị đơn được xây dựng năm 1978. Nhà 01 tầng, mái lợp tôn, kết hợp với ngói Bờ rô xi măng, tường xây ốp tôn, tường quét sơn và vôi ve, nhà cao 3,6m, trần tôn và nhựa, nền lát gạch kết hợp với láng xi măng. Tổng diện tích là 141m². Theo tỷ lệ hao mòn của nhà cấp 4, nhà đã hết khấu hao, không còn giá trị về tài sản.
Tại Bản án số 08 /2023/DS-ST ngày 25-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã tuyên xử:
Căn cứ Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 68; Điều 92; Điều 147; Điều 157, Điều 165, Khoản 2 Điều 228, Khoản 2 Điều 229, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 255 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi.
Căn cứ các Điều 691, Điều 692, Điều 693, Điều 695, Điều 696 của Bộ luật dân sự năm 1993.
Căn cứ các Điều 256, Điều 259 của Bộ luật dân sự năm 2005; Căn cứ khoản 1 Điều 2; khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 19, khoản 3, 6 Điều 73 của Luật đất đai năm 1993.
Căn cứ Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Xét xử vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP N3; người làm chứng ông Hồ Văn S.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn N, bà Lê Thị H.
- Buộc ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 trả lại cho ông Lê Văn N, bà Lê Thị H thửa đất có diện tích 141,2m², tại tổ A, phường T, thành phố H, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ182778 do UBND thành phố H cấp ngày 24/5/2004 mang tên hộ ông Lê Văn N (đo đạc thực tế sau khi trừ đi diện tích đất bị thu hồi mở đường Nguyễn Công T1 giai đoạn I, còn lại 110.1m²).
- Buộc ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 phải tháo dỡ, di dời diện tích xây dựng công trình trái phép trên phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Lê Văn N, bà Lê Thị H.
Ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 phải tự thực hiện việc tháo dỡ, di dời nêu trên ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 không thực hiện việc tháo dỡ, di dời nêu trên thì sẽ bị cưỡng chế theo quy định của pháp luật về Thi hành án dân sự và ông Lê Văn N, bà Lê Thị H có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền giải quyết theo quy định pháp luật.
- Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Lê Văn N, bà Lê Thị H về việc tự nguyện chịu lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ, lệ phí định giá và lệ phí đo vẻ đất do chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H – C thực hiện, tổng số tiền 3.982.079 đồng. Ông N, bà H đã thực hiện xong việc nộp số tiền 3.982.079 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.
Ngày 27/9/2023, bị đơn ông Trương Vĩnh T và bà Lê Thị N1 kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 25/9/2023, do bản án sơ thẩm đưa ra không đúng, còn có nhiều tình tiết chưa được sáng tỏ, minh bạch, chưa giải quyết được thỏa đáng vấn đề. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, trình bày quan điểm tranh luận cho rằng:
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh thụ lý đơn về yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N tranh chấp về kiện đòi lại tài sản theo qui định tại khoản 2, Điều 26, Điểm a, Khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp với qui định của pháp luật. Nhưng ông N không còn quyền khởi kiện vì yêu cầu của ông đã được UBND thành phố H giải quyết bằng Quyết định số: 1353/QĐ-UBND ngày 30/10/2008 đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định tại Điểm c, khoản 1, Điều 192 BLTTDS thì lẽ ra Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh phải trả đơn khởi kiện cho ông N sau khi thu thập được Quyết định giải quyết khiếu nại số: 1353/QĐ-UBND ngày 30/10/2008.
- Về yêu cầu của phía bị đơn: Ngày 25/9/2022, ông Tú bà N1 có đơn đề nghị hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Lê Văn N. Hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 24/5/2004, UBND thị xã H ban hành Quyết định số: 584/QĐ/UB về việc cho phép chuyển nhượng QSDĐ và cấp GCNQSDĐ kèm theo việc cấp GCNQSDĐ số: Đ182778 cho ông Nguyễn Văn N2. Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh giải quyết vụ kiện này là trái thẩm quyền theo quy định tại khoản 4, Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 32 Luật tố tụng hành chính, vì Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã chấp nhận thụ lý yêu cầu của bị đơn hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn.
- Về tư cách và người tham gia tố tụng: Tòa án chỉ đưa Ngân hàng V1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mà không đưa UBND thành phố H cơ quan ban hành Quyết định số: 584/QĐ/UB cấp GCNQSDĐ số: Đ182778 ngày 24/5/2004 cho hộ ông Nguyễn Văn N2 và UBND phường T cơ quan xác nhận Bản Thỏa thuận chuyển nhượng ngày 09/7/2003 để xem xét về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ và chứng thực Hợp đồng giao dịch là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng là hành vi bỏ sót đương sự, vi phạm khoản 4 Điều 68, khoản 4 Điều 34 BLTTDS.
- Thửa đất các bên tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng ông Trương Vĩnh T và bà Lê Thị N1, tuy nhiên toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ có ông T ký, bà N1 không ký, vì vậy giao dịch vô hiệu.
Từ những nội dung trên người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm, giao cho cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Lê Văn N trình bày: Bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Vĩnh T với ông Lê Văn N được UBND phường T chứng thực ngày 9/7/2003 với diện tích chuyển nhượng 141,2m² là đúng thực tế. Vì vậy đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trương Vĩnh T và bà Lê Thị N1, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 25-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
Về nội dung đại diện bị đơn cho rằng Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh thụ lý giải quyết vụ án là không đúng thẩm quyền, quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm không đưa UBND thành phố H, UBND phường T vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án tranh chấp liên quan đến giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, căn cứ tại mục 2, phần 2 Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 và Công văn số 79/TANDTC-PC về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến số 64/TANDTC-PC thì việc Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh không đưa UBND thành phố H, UBND phường T vào tham gia với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đồng thời thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Về nội dung đại diện bị đơn cho rằng tranh chấp đã được UBND thành phố giải quyết bằng Quyết định số: 1353/QĐ-UBND ngày 30/10/2008 đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Quyết định số 386/2007/QĐ-UBND ngày 24/4/2007 của UBND thị xã H về việc giải quyết khiếu nại của ông Trương Vĩnh T, quyết định: Điều 1: Không thừa nhận tính pháp lý của bản thỏa thuận chuyển quyền sử dụng đất giữa ông Trương Vĩnh T và ông Lê Văn N lập không có ngày tháng được UBND phường T xác nhận ngày 09/7/2003...”. Tại quyết định số 1353/2008/QĐ-UBND ngày 31/10/2008 của UBND thành phố H về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn N, quyết định: Điều 1. Hủy bỏ nội dung Điều 1 quyết định giải quyết khiếu nại số 386/2007/QĐ-UBND ngày 24/4/2007 của UBND thị xã H...Điều 3: Nội dung tranh chấp về trách nhiệm của các bên tronh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Vĩnh T và ông Lê Văn N là quan hệ dân sự. Đề nghị ông Trương Vĩnh T khởi kiện dân sự tại cơ quan Tòa án nhân dân để được giải quyết...”. Tại Điều 1 của Quyết định số 1353/2008/QĐ-UBND ngày 31/10/2008 của UBND thành phố H đã hủy bỏ Điều 1 Quyết định số 386/2007/QĐ-UBND ngày 24/4/2007 của UBND thị xã H; tại Điều 3 Quyết định số 1353/2008/QĐ-UBND đã xác định nội dung tranh chấp giữa ông T và ông N là quan hệ dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Như vậy, việc tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa ông Trương V và ông Lê Văn N, thì UBND thành phố H chưa giải quyết bằng quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật như quan điểm của người đại diện của bị đơn, nên ông Lê Văn N có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt bị đơn ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP N3. Tuy nhiên, ông T, bà N1 đã có văn bản ủy quyền cho ông Trần Hậu Đ đại diện cho ông, bà tham gia giải quyết vụ án; đối với Ngân hàng TMCP N3 quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP N3 chưa có yêu cầu gì và đề nghị giải quyết vắng mặt. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn, đại diện ủy quyền của bị đơn đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án mà không hoãn phiên tòa. Căn cứ đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của bị đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[2.1]. Xét nguồn gốc thửa đất tranh chấp:
Thửa đất số 10, tờ bản đồ số 01, diện tích 141,2m² tại tổ dân phố A, phường T, thành phố H có nguồn gốc là của cha, mẹ ông Trương Vĩnh T để lại, là đất thổ cư. Tại sổ mục kê và bản đồ 299 (được đo, vẽ năm 1985) đăng ký tên ông Trương Vĩnh T thuộc thửa đất số 101, tờ bản đồ số 1, có diện tích 180m². Tại bản đồ 371 (đo, vẽ năm 1995) thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ số 1, diện tích 350m² mang tên Trương Vĩnh T. Thửa đất được chính quyền địa phương xác nhận đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Như vậy, có căn cứ khẳng định nguồn gốc thửa đất mà ông Trương Vĩnh T chuyển nhượng cho ông Lê Văn N là của bố, mẹ ông Trương Vĩnh T để lại, được ông T sử dụng ổn định, không có tranh chấp từ năm 1978 cho đến khi chuyển nhượng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2, khoản 3 Điều 73 của Luật đất đai 1993; Điều 693, Điều 695 của Bộ luật dân sự năm 1995 thì thửa đất trên thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Trương Vĩnh T nên ông Trương Vĩnh T được quyền chuyển nhượng thửa đất.
[2.2]. Xét tính hợp pháp của hai văn bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
[2.2.1]. Đối với văn bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng thực vào ngày 9/7/2003.
Về hình thức văn bản: Tại văn bản này không đề ngày, tháng, năm lập văn bản. Tuy nhiên, bên chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đều ký đầy đủ, văn bản chuyển nhượng được chứng thực tại UBND phường T, thành phố H; được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền là phòng Tài nguyên và môi trường thị xã H (nay là thành phố H) để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ vào văn bản trên UBND thị xã H (nay là thành phố H) đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn N. Quá trình giải quyết khiếu nại ông Trương Vĩnh T cho rằng văn bản này là giả mạo chữ ký của ông T. Tuy nhiên căn cứ Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H: Chữ ký và chữ viết “Trương Vĩnh T” ở dưới chữ ký trong các tài liệu cần giám định với chữ ký và chữ viết đứng tên Trương Vĩnh T trong các tài liệu mẫu so sánh là do một người ký và viết ra.
Về nội dung: Văn bản thể hiện ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 chuyển nhượng cho ông Lê Văn N, bà Lê Thị H thửa đất có diện tích 141m² tại thửa đất số 10, tờ bản đồ số 01, thuộc tổ dân phố A, phường T, thành phố H; Kèm theo văn bản chuyển nhượng có: sơ đồ vị trí thửa đất xin chuyển nhượng đề ngày 9/7/2003, thể hiện: Thửa đất xin chuyển nhượng có diện tích 141,2m² (trong đó có 90m² đất nằm trong chỉ giới mở đường); loại đất: đất ở; Vị trí, loại đường: đường N; Ranh giới thửa đất: Đông giáp mương thoát nước 1,0m dài 5.3m; Tây giáp đường N dài 10m; Nam giáp đất ông Nguyễn Hữu T5 dài 17,7m; Bắc giáp đường đi vào xã T dài 17,7m. Sơ đồ vị trí thửa đất trên được bên chuyển nhượng ông Trương Vĩnh T, bên nhận chuyển nhượng ông Lê Văn N, cán bộ địa chính phường T ông Hồ Văn S, cán bộ địa chính thị xã H ông Nguyễn Văn T3 đều ký tên và có xác nhận đóng dấu của UBND phường T, thị xã H (nay là thành phố H).
[ 2.2.2]. Đối với văn bản chuyển nhượng đề ngày 18/6/2003, được chứng thực vào ngày 29/7/2003.
Về hình thức văn bản: Tại văn bản này bên chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng ký đầy đủ, có chứng thực của UBND phường T, thành phố H. Ông Trương Vĩnh T cho rằng đây mới là bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và ông T. Ông Lê Văn N cho rằng văn bản này đã được hai bên thống nhất hủy khi chưa chứng thực, không phải là văn bản dùng để đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có giá trị pháp lý, còn lý do gì mà ông T đang lưu giữ văn bản trên ông N không biết. Theo kết quả xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm tại UBND phường T, thành phố H thì hiện nay hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông N tại phường không còn lưu giữ.
Về nội dung: Văn bản thể hiện ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 chuyển nhượng cho ông Lê Văn N, bà Lê Thị H thửa đất có diện tích 60m², tại thửa đất số 10, tờ bản đồ số 01, thuộc tổ dân phố A, phường T, thành phố H. Trong bản thỏa thuận này có ghi thêm cam kết khác: “Đồng ý chuyển nhượng theo thực tế sử dụng. Phần đất nằm trong chỉ giới quy hoạch Nhà nước đền bù thì gia đình ông Trương Vĩnh T được hưởng toàn bộ”. Kèm theo văn bản chuyển nhượng có: Sơ đồ vị trí thửa đất xin chuyển nhượng; Biên bản kiểm tra đất chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 9/7/2003 và xác nhận, đóng dấu của UBND phường T ngày 29/7/2003, bên chuyển nhượng ông Trương Vĩnh T, bên nhận chuyển nhượng ông Lê Văn N, cán bộ địa chính phường T ông Hồ Văn S, tổ trưởng tổ dân phố ông Kiều Đ1 đều ký tên. Văn bản thể hiện: Vị trí thửa đất: dãy I; loại đường: đường N; thửa đất có diện tích: 135,4m² (trong đó bao gồm 90m² đất nằm trong chỉ giới mở đường); Loại đất: đất thổ cư; Ranh giới: Đông giáp đất còn lại ông T, dài 5.3m; Tây giáp cách tim đường N 7,5m, dài 10m; Nam giáp đất ông Nguyễn Hữu T5 dài 17,7m; Bắc giáp đường đi vào xã T dài 17,7m.
[2.2.3] Căn cứ quy định tại Điều 691, Điều 692, Điều 696 của Bộ luật dân sự năm 1995 thì việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định của bộ luật này và pháp luật về đất đai được thực hiện thông qua hợp đồng. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được làm thủ tục và đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, việc chuyển nhượng có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất tại UBND cấp có thẩm quyền. Như vậy, cả hai văn bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên đều được bên nhận chuyển nhượng, bên chuyển nhượng ký đầy đủ, được Ủy ban phường T, thành phố H chứng thực. Tuy nhiên, chỉ có văn bản chứng thực ngày 9/7/2003 được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (là văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc UBND thành phố H) mới làm phát sinh hiệu lực pháp luật đối với văn bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đối với Văn bản chuyển nhượng đề ngày 18/6/2003 chứng thực vào ngày 29/7/2003, nhưng không được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền là văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc UBND thành phố H nên không làm phát sinh hiệu lực pháp luật của văn bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
[2.2.4] Xét nội dung đại diện của bị đơn cho rằng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi thửa đất chưa được cấp Giấy CNQSD đất là vi phạm quy định của Luật đất đai năm 1993, UBND phường T chứng thực hợp đồng chuyển nhượng là vi phạm quy định tại Thông tư số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ tư pháp – Bộ T8, xét thấy: Căn cứ hướng dẫn tại điểm b.2, mục 2.3 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tại thời điểm giao kết vi phạm các điều kiện hướng dẫn tại điểm a.4 “đất chuyển nhượng đã được cấp Giấy CNQSD đất...” và điểm a.6 “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền” của tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng sau đó đã được UBND cấp có thẩm quyền cấp Giấy CNQSD đất....mà có phát sinh tranh chấp và từ 01/7/2004 mới có yêu cầu Tòa án giải quyết thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này. Như vậy, mặc dù khi thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Vĩnh T và ông Lê Văn N thì thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc UBND phường T chứng thực là không đúng thẩm quyền theo quy định tại Thông tư số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ tư pháp – Bộ T8. Tuy nhiên, thửa đất chuyển nhượng đã được UBND thị xã H (nay là UBDN thành phố H) cấp Giấy CNQSD đất ngày 24/5/2004 mang tên hộ ông Lê Văn N, vì vậy giao dịch trên có giá trị pháp lý.
2.2.5. Đối với nội dung đại diện bị đơn cho rằng thửa đất là tài sản chung của vợ chồng ông Trương Vĩnh T và bà Lê Thị N1 nhưng hồ sơ chuyển nhượng chỉ ông Trương Vĩnh T ký, còn bà Lê Thị N1 không ký nên thủ tục chuyển nhượng không đảm bảo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện bà Lê Thị N1 biết rõ việc chuyển nhượng thửa đất cho gia đình ông Lê Văn N, đồng thời bà N1 là người trực tiếp nhận tiền chuyển nhượng đất từ ông N, như vậy mặc dù bà N1 không ký vào các thủ tục của hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng bà đã mặc nhiên đồng ý chuyển nhượng thửa đất cho ông Lê Văn N.
Từ những nhận định trên có căn cứ xác định năm 2003 ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Lê Văn N, bà Lê Thị H một thửa đất “theo diện tích đất thực tế” mà ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 đang sử dụng tại thửa đất số 10, tờ bản đồ số 01, thuộc tổ dân phố A, phường T, thành phố H (bao gồm cả diện tích 90m² đất nằm trong phần quy hoạch mở đường); Về vị trí thửa đất chuyển nhượng: là đất dãy I, bám với mặt đường Nguyễn Công T1; Về diện tích thửa đất chuyển nhượng: Theo Sơ đồ vị trí thửa đất xin chuyển nhượng có xác nhận cùng ngày của UBND phường T đề ngày 9/7/2003 có diện tích 141,2m². Ngày 25/02/2004 cán bộ phòng địa chính UBND thị xã H tiến hành kiểm tra thực tế thửa đất, lập biên bản kiểm tra hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, có diện tích 141,2m². Đây cũng là văn bản cuối cùng kiểm tra thực tế thửa đất xin chuyển nhượng được ông T, ông N thống nhất và ký tên vào biên bản. Như vậy, có căn cứ xác định diện tích thửa đất xin chuyển nhượng là 141,2m².
Ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 cũng thừa nhận ông N, bà H đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán số tiền 40.000.000 đồng tiền mua bán đất. Đại diện UBND phường T, thành phố H xác nhận tại thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai hộ gia đình ông T và ông N thì phần diện tích đất nằm trong quy hoạch mở đường cho phép được chuyển nhượng, tuy nhiên không được xây dựng các công trình kiên cố trên đất. Như vậy, có căn cứ khẳng định: Ngày 9/7/2003 ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 đồng ý chuyển nhượng cho ông Lê Văn N, bà Lê Thị H diện tích 141.2m² đất tại thửa đất số 10, tờ bản đồ số 1, thuộc tổ dân phố A, phường T, thành phố H. Việc mua bán, chuyển nhượng giữa các bên đã hoàn thành.
Trên cơ sở văn bản thỏa thuận chuyển nhượng của các bên, Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 24/5/2004 UBND thị xã H có Quyết định số 584/QĐ-UB về việc cho phép chuyển nhượng quyền sử đụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ182778 cho hộ ông Lê Văn N với diện tích 141,2m² là đúng thỏa thuận của các bên và phù hợp quy định tại Điều 696 của Bộ luật dân sự năm 1995; khoản 2 Điều 3 Luật đất đai năm 1993.
[2.3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn N, bà Lê Thị H buộc bị đơn ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 phải trả lại tài sản là thửa đất số 10, tờ bản đồ số 1, tại tổ dân phố A, phường T, thành phố H. Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N, bà H cho vợ chồng ông T, bà N1 mượn đất sử dụng. Năm 2006 thực hiện dự án mở đường Nguyễn Công T1 (giai đoạn I), Hội đồng bồi thường thị xã H (nay là thành phố H), căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N lập hồ sơ bồi thường phần diện tích nằm trong hành lang đường cho ông N. Ông T làm đơn khiếu nại đòi được nhận khoản tiền bồi thường nói trên từ đó hai gia đình ông N, ông T xảy ra việc tranh chấp, khiếu kiện. Năm 2007 ông N, bà H yêu cầu ông T, bà N1 phải trả lại thửa đất cho ông N để sử dụng nhưng ông T, bà N1 không chịu trả và sử dụng từ đó cho đến nay. Do thửa đất số 10, tờ bản đồ số 1, tại tổ dân phố A, phường T, thành phố H thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Lê Văn N, bà Lê Thị H nhưng hiện nay ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 đang quản lý, sử dụng mà không được sự cho phép của ông N, bà H là chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật. Theo quy định tại Điều 256 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì “Chủ sỡ hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sỡ hữu hoặc thuộc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó”. Khoản 6 Điều 73 của Luật đất đai năm 1993 quy định, người sử dụng đất có quyền “được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình”.
Ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 tự ý xây dựng nhà trên phần đất của ông N, bà H khi chưa có sự đồng ý của ông N, bà H là vi phạm quy định tại Điều 259 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Như vậy, yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn N, bà Lê Thị H buộc ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 phải trả lại tài sản là thửa đất và tự tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trái phép trên phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông N, bà H có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.4]. Ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 cho rằng gia đình ông chỉ thỏa thuận chuyển nhượng cho ông N, bà H diện tích 60m² đất thuộc phần đất nằm ngoài quy hoạch mở đường Nguyễn Công T1, còn phần đất bám với mặt đường Nguyễn Công T1, nằm trong quy hoạch mở đường là 90m² đất thì gia đình ông T không chuyển nhượng là không có cơ sở nên không được chấp nhận. Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ182778 mang tên Lê Văn N là không có căn cứ nên cấp sơ thẩm không chấp nhận là có căn cứ.
[2.5]. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không có yêu cầu về bồi thường thiệt hại nên cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.
[2.6]. Thửa đất số 10, tờ bản đồ số 1, tại tổ A, phường T, thành phố H, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ182778 mang tên hộ ông Lê Văn N, hiện ông N đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP N3 để vay vốn. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP N3 chưa có yêu cầu gì nên nên cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ. Trường hợp xảy ra tranh chấp thì Ngân hàng được quyền khởi kiện giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[3]. Về lệ phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tại cấp sơ thẩm ông Lê Văn N, bà Lê Thị H tự nguyện chịu lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và lệ phí đo đạc, số tiền 3.982.079 đồng nên cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyên của nguyên đơn là có căn cứ.
[4]. Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị đơn ông Trương Vĩnh T là thương binh, bà Lê Thị N1 là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho nguyên đơn bà Lê Thị H số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trương Vĩnh T và bà Lê Thị N1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 25-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 68; Điều 92; Điều 147; Điều 157, Điều 165, Khoản 2 Điều 228, Khoản 2 Điều 229, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 255 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi.
Căn cứ các Điều 691, Điều 692, Điều 693, Điều 695, Điều 696 của Bộ luật dân sự năm 1993.
Căn cứ các Điều 256, Điều 259 của Bộ luật dân sự năm 2005; Căn cứ khoản 1 Điều 2; khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 19, khoản 3, 6 Điều 73 của Luật đất đai năm 1993.
Căn cứ Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn N, bà Lê Thị H.
- Buộc ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 trả lại cho ông Lê Văn N, bà Lê Thị H thửa đất có diện tích 141,2m², tại tổ A, phường T, thành phố H, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ182778 do UBND thành phố H cấp ngày 24/5/2004 mang tên hộ ông Lê Văn N (đo đạc thực tế sau khi trừ đi diện tích đất bị thu hồi mở đường Nguyễn Công T1 giai đoạn I, còn lại 110.1m²).
- Buộc ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 phải tháo dỡ, di dời diện tích xây dựng công trình trái phép trên phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Lê Văn N, bà Lê Thị H.
Ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 phải tự thực hiện việc tháo dỡ, di dời nêu trên ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 không thực hiện việc tháo dỡ, di dời nêu trên thì sẽ bị cưỡng chế theo quy định của pháp luật về Thi hành án dân sự và ông Lê Văn N, bà Lê Thị H có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền giải quyết theo quy định pháp luật.
- Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Lê Văn N, bà Lê Thị H về việc tự nguyện chịu lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ, lệ phí định giá và lệ phí đo vẻ đất do chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H – C thực hiện, tổng số tiền 3.982.079 đồng. Ông N, bà H đã thực hiện xong việc nộp số tiền 3.982.079 đồng.
- Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Bị đơn ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Lê Thị H 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001072 ngày 03/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh.
- Án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Trương Vĩnh T, bà Lê Thị N1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm
“Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Hà Ngân | Hồ Đức Quang |
| Nguyễn Thị Thương Huyền |
|
Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - TAND thành phố Hà Tĩnh; - VKSND thành phố Hà Tĩnh; - Chi cục THADS thàn phố Hà Tĩnh; - Các đương sự; - Lưu HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Đức Quang |
Bản án số 40/2023/DS-PT ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp về kiện đòi lại tài sản, buộc tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trái phép
- Số bản án: 40/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về kiện đòi lại tài sản, buộc tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trái phép
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Ng - Trương Vĩnh T Tranh chấp về kiện đòi lại tài sản,
