TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HSST Ngày 28.5.2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: bà Vũ Thị Liên và ông Đặng Anh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Thơ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động tham gia phiên tòa: ông Dương Sơn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở UBND xã Hiệp Cường, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 19/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 14/5/2024, đối với:
Bị cáo: Trịnh Văn H, sinh năm 1988; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12. Con ông: Trịnh Văn H, con bà: Vũ Thị N; vợ: Đào Thị H (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ 27/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 30/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968 (vắng mặt);
- Ông Lê Công D, sinh năm 1965 (vắng mặt);
Đều trú tại: thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 15 phút, ngày 27/01/2024, tại địa phận thôn Tiên Cầu, xã Hiệp Cường, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Công an xã Hiệp Cường đang tuần tra thì phát hiện Trịnh Văn H có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. H đã giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon chứa chất dạng tinh thể màu trắng, H khai nhận là ma tuý mua về để sử dụng. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng và niêm phong theo quy định của pháp luật. Hồi 08 giờ 40 phút ngày 28/01/2024 Công an xã Hiệp Cường bàn giao Trịnh Văn H cùng hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Động (dưới đây viết tắt là: Cơ quan điều tra) để giải quyết theo thẩm quyền.
H khai nhận: Do bị cáo nghiện ma tuý nên khoảng 20 giờ 00 phút ngày 27/01/2024, Trịnh Văn H đi đến địa phận Dốc Lã, thuộc địa phận xã Bảo Khê, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, tìm mua ma tuý đá để sử dụng. Tại đây H đã gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua 300.000 đồng ma tuý. Sau khi kiểm tra thấy đúng là ma tuý, H cầm ở tay rồi đi về sử dụng, khi đi đến thôn Tiên Cầu, xã Hiệp Cường thì bị bắt.
Tại bản Kết luận giám định số 217/KL-KTHS(MT) ngày 31/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong có khối lượng 0,192 gam, là ma tuý, loại Methamphetamine.
H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho H ngày 27/01/2024, H khai không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ, đặc điểm cụ thể của người này nên không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.
Về vật chứng thu giữ: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 217/KL-KTHS(MT).
Cáo trạng số 39/CT-VKSKĐ ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố Trịnh Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động trình bày luận tội: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trịnh Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Trịnh Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt: bị cáo Trịnh Văn H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 27/01/2024.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu cho huỷ 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật ghi số 217/KL-KTHS(MT), bên trong có: 0,182 gam ma tuý, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng đựng ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
- Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định số 217/KL-KTHS(MT) ngày 31/01/2024 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 27/01/2024, tại địa phận thôn Tiên Cầu, xã Hiệp Cường, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Trịnh Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,192 gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng, thì bị phát hiện. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động truy tố bị cáo Trịnh Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên, nhận thức rất rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma tuý, đe dọa nghiêm trọng đến trật tự công cộng, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời để làm bài học ngăn ngừa tội phạm chung.
[3] Đối với người thanh niên bán ma tuý cho H. Do H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm cụ thể của người này nên không có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; ông nội bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân của bị cáo: bị cáo là người nghiện ma tuý, có nhân thân xấu.
[6] Về hình phạt: căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt.
[7] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo là người lao động tự do, nghiện ma túy, thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- 0,182 gam ma tuý, loại Methamphetamine, hoàn sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu cho huỷ.
- 01 vỏ túi nilon màu trắng đựng ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho huỷ.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Văn H.
Tuyên bố: bị cáo Trịnh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: bị cáo Trịnh Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 27/01/2024.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu cho huỷ 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật ghi số 217/KL-KTHS(MT), bên trong có: 0,182 gam ma tuý, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng đựng ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng nêu trên được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Kim Động và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Động ngày 14/5/2024).
Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Ngọc Oanh |
Bản án số 40/2024/HSST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)
- Số bản án: 40/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
