|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/02/2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ung Thị Ngọc Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Thu An
2. Ông Phạm Xuân Đính
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Huế là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Lệ Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Huỳnh N, sinh năm 1995; HKTT: Áp A, K, Trần Văn T, Cà Mau; tạm trú: Khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Tăng Thanh H, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp G, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Huỳnh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Huỳnh N và ông Tăng Thanh H chung sống với nhau vào năm 2018 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước. Trước khi chung sống cả hai còn độc thân, việc chung sống là tự nguyện.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông H chơi bời, không lo làm ăn chăm sóc vợ con. Bà N nhiều lần khuyên bảo nhưng ông H không nghe. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về nuôi con chung: Vợ chồng ông bà có 01 con chung tên Tăng Thanh T1, sinh năm 02/6/2019, hiện đang sống cùng bà N, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Như không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Tăng Thanh H đã được Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng ông H vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông H được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm, không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác
- Bị đơn vắng mặt không có lý do
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành phát biểu ý kiến.
Việc chấp hành theo quy định pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS năm 2015;
Về việc chấp hành theo quy đinh pháp luật của HĐXX: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 63 BLTTDS 2015;
Về việc chấp hành theo quy định của pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đã chấp hành đúng đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật
+ Quan điểm về giải quyết vụ án:
Vụ án thuộc trường hợp kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21, Điều 97 BLTTDS
Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu xét thấy:
Bà N và ông H chung sống với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sông xét thấy ông bà thường xuyên mâu thuẫn, sống ly thân đã lâu và không còn quý trọng, quan tâm chăm sóc, yêu thương nhau nữa làm cho đời sống vợ chồng lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng.
Căn cứ Điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình
Căn cứ vào lời khai nguyên đơn và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bà Phạm Huỳnh N được ly hôn với ông Tăng Thanh H.
Về con chung: Bà N có nguyện vọng nuôi con chung, ông H không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà N. Vì vậy, đề nghị HĐXX giao con chung tên Tăng Thanh T1, sinh năm 02/6/2019 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu nên không đề cập
Về án phí nguyên đơn chịu theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn bà Phạm Huỳnh N, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn ông Tăng Thanh H có nơi cư trú tại ấp G, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
[3] Về thủ tục tố tung: Tại phiên tòa bị đơn ông Tăng Thanh H mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Huỳnh N, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Bà Phạm Huỳnh N và ông Tăng Thanh H tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2018 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C (nay thị xã C), tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.
[4.2] Trong quá trình giải quyết vụ án bà N cho rằng quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông H chơi bời, không lo làm ăn chăm sóc vợ con. Bà N nhiều lần khuyên bảo nhưng ông H không nghe. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Điều này phù hợp với lời trình bày của bà Phạm Thị N1 là mẹ ruột bà N, bà N1 xác định vợ chồng bà N ông H chung sống có nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân thời gian dài, không còn liên lạc gì với nhau. Xét thấy, giữa bà N và ông H chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân, không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà N, cho bà N được ly hôn với ông H.
[4.3] Về con chung: Quá trình chung sống bà N và ông H có 01 con chung tên Tăng Thanh T1, sinh năm 02/6/2019, bà N yêu cầu được nuôi và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà N có nguyện vọng nuôi con chung chưa thành niên, ông H không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà N. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà N, giao con chung Tăng Thanh T1 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu
[4.4] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Huỳnh N phải chịu là 300.000đồng.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83,84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phạm Huỳnh N được ly hôn với ông Tăng Thanh H
- Về con chung: Giao con chung tên Tăng Thanh T1, sinh năm 02/6/2019 cho bà Phạm Huỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Phạm Huỳnh N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004587 ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ung Thị Ngọc Thanh |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
