|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 02 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Hoàng Phú - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Minh A; nơi cư trú: Số D H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Tiến T; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; hiện đang chấp hành án tại Đội 8, phân trại 4, Trại giam X, huyện T (nay là thành phố T), thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/08/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh A1 trình bày: Chị và anh Vũ Tiến T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C (nay là phường A), quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 06/08/2019;
đến nay có 01 con chung là Vũ Tường Q, sinh ngày 14/02/2020. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên bất đồng nhau về quan điểm sống, lối sống, tính cách, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Hơn nữa, tháng 06/2022 anh T bị xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và phải chấp hành án tại Đội 8, phân trại D, Trại giam X, thành phố T, thành phố Hải Phòng thì tình cảm vợ chồng lạnh nhạt; trong thời gian đầu anh T chấp hành án, chị Minh A1 có qua lại thăm hỏi, động viên nhưng mâu thuẫn không cải thiện được. Nay chị Minh A1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, tiếp tục cuộc sống chung cũng không có hạnh phúc nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Tiến T. Về con chung: Chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Minh A1 nhận nộp án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Tại bản tự khai ngày 06/11/2024, bị đơn anh Vũ Tiến T trình bày: Anh và chị Đặng Thị Minh A xây dựng gia đình với nhau năm 2019, có đăng Ủy ban nhân dân phường C (nay là phường A), quận L, thành phố Hải Phòng; đến nay có một con chung là Vũ Tường Q, sinh ngày 14/02/2020. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến tháng 06/2022 anh vi phạm pháp luật, bị Toà án nhân dân cấp cao Hà Nội xử phạt 09 năm 06 tháng tù phạm tội Trộm cắp tài sản và phải đi chấp hành án tại Đội 8, phân trại 4 Trại giam X, thành phố T, thành phố Hải Phòng. Thời gian đầu anh đi chấp hành án, chị Minh A có thăm gặp, quan tâm; đến năm 2024, do xa cách về địa lý và thời gian cải tạo của anh còn khá dài nên anh cảm nhận tình cảm vợ chồng không còn được gắn kết keo sơn như trước nên chị Minh A đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh đồng ý thuận tình ly hôn. Về con chung: Hiện anh không thể nuôi con nên anh đồng ý giao con chung cho chị Minh A nuôi dưỡng, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết. Do anh đang phải chấp hành nên anh xin được vắng mặt tất cả các buổi làm việc và xin vắng mặt tại phiên tòa.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp; những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Chị Đặng Thị Minh A và anh Vũ Tiến T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng vào năm 2019 và có 01 con chung; quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; xử cho chị Minh A được ly hôn anh T; về con chung: Giao con chung là Vũ Tường Q, sinh ngày 14/02/2020 cho chị Minh A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về tài sản chung: Chị Minh A không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về án phí: Chị Minh A phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn chị Đặng Thị Minh A khởi kiện xin ly hôn anh Vũ Tiến T là tranh chấp về ly hôn và nuôi con khi ly hôn; bị đơn cư trú tại địa bàn quận L, thành phố Hải Phòng nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
[2] Bị đơn anh Vũ Tiến T đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
- Về nội dung:
[3] Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Minh A và anh Vũ Tiến T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Giấy chứng nhận kết hôn số 27 do Ủy ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng cấp ngày 06 tháng 08 năm 2019 nên theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng nhau về quan điểm sống, lối sống, tính cách; tháng 6/2022, anh T vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án phạt tù thì tình cảm vợ chồng càng lạnh nhạt hơn. Tiến hành thu thập chứng cứ xác minh về thực trạng hôn nhân giữa chị Minh A và anh T tại nơi cư trú và gia đình bị đơn cho thấy: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ sau khi anh T phạm tội Trộm cắp tài sản và phải đi chấp hành án phạt tù. Xét mâu thuẫn giữa chị Minh A và anh T đã thực sự trầm trọng; cuộc sống chung không thể kéo dài; mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; xử cho chị Đặng Thị Minh A được ly hôn anh Vũ Tiến T là phù hợp.
[4] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Tường Q, sinh ngày 14/02/2020, chị Minh A đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và anh T đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng của các bên đương sự là tự nguyện,
phù hợp với điều kiện, hành cảnh thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận; về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị Minh A và anh T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Minh A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q1;
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Minh A được ly hôn anh Vũ Tiến T.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Tường Q, sinh ngày 14/02/2020; ly hôn, giao con chung cho chị Minh A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Minh A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền này chị Minh A đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo Biên lai thu tiền số 0003435 ngày 08 tháng 10 năm 2024.
- Về quyền kháng cáo: Chị Minh A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Đặng Thị Minh A - Vũ Tiến T
