Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TU MƠ RÔNG

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HS-STNgày: 26/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bình Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông A Linh và ông A Phun;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đỗ Phương Thảo;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/HSST - QĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo: A C, sinh ngày 05/02/1998, tại Kon Tum; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông, dân tộc: Xê đăng, tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A T (đã chết) và bà Y H D, sinh năm 1966. Bị cáo có vợ là Y L, sinh năm 1997, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/7/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa..

A T1, sinh ngày 28/4/2001 tại: Kon Tum; Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông, dân tộc: Xê đăng, tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A Đ, sinh năm 1983 và bà Y P, sinh năm 1982.

Tiền sự: Không; tiền án: 01.

Ngày 24/5/2022 bị TAND huyện Tu Mơ Rông tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” đến ngày 06/05/2023 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/07/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Văn Đ1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K - Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1979. Có mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum

+ Chị Phùng Thị Thanh X, sinh năm 1979; Có mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum.

* Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Văn Đ1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 12 năm 2023, A C có mua một chiếc điện thoại di động tại cửa hàng Đ2 (thuộc thôn M, xã Đ, huyện T) do Phùng Thị Thanh X và Nguyễn Thanh T2 cùng làm chủ với giá 1.800.000đ (Một triệu, tám trăm ngàn đồng). Sau khi sử dụng được một thời gian ngắn thì điện thoại bị hỏng nên A C mang điện thoại đến quán để sửa nhưng không sửa được nên A C yêu cầu được trả lại điện thoại và nhận lại tiền. Cả hai bên thống nhất trả lại cho A C 1.600.000đ (Một triệu, sáu trăm ngàn đồng) sau khi đã trừ tiền phụ kiện và loa rời đã tặng trước đó. Quá trình trả lại điện thoại cả hai bên có lời qua tiếng lại với nhau nhưng không xảy ra sự việc gì. Mặc dù vậy, A C cảm thấy bực tức vì cho rằng quán Đ3 làm ăn không uy tín, đã bán điện thoại kém chất lượng còn có thái độ không vui vẻ, khó chịu với A C.

Tối ngày 29/5/2024, A C ngồi uống rượu với A T1 tại nhà bà Y H D trú tại thôn M, xã Đ, huyện T. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 30/5/2024, sau khi uống rượu xong thì A C nhớ lại, bực tức chuyện cũ với quán điện thoại Phùng X nên A C nảy sinh ý định đến quán Đ3 để đập phá, hủy hoại tài sản của quán. Lúc này A C nói với A T1 “Đi lên kia tí”, A T1 hỏi đi đâu thì A C nói “Lên chỗ cửa hàng điện thoại Phùng X đập phá do còn bực tức bà bán điện thoại cho C” thì A T1 đồng ý. Sau đó A C vào nhà lấy một con dao rựa và cùng A T1 đến quán Đ3 để đập phá. A C và A T1 đi bộ đến cửa hàng điện thoại Phùng X, khi đến nơi thì A T1 nhặt một khúc gỗ hình trụ tròn nhằm mục đích cùng A Cần đập phá, hủy hoại tài sản. A C sử dụng dao rựa chém nhiều nhát vào cửa kéo, chém và đập vào các đồ dùng khác như bàn gộc, ghế nhựa, tủ kính nhằm mục đích làm cho các tài sản trên không còn sử dụng được. A T1 dùng khúc cây đập vào cửa, các tấm kính, bàn gỗ, ghế nhựa nhằm mục đích làm cho các tài sản trên không còn sử dụng được. Sau khi đập phá xong, A C, A T1 về nhà bà Y H D ngủ, sáng hôm sau Công an xã Đ, huyện T mời lên làm việc. Quá trình điều tra, xác minh, A C, A T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Kết luận định giá tài sản số: 08/KL-HĐ ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 04 (Bốn) cánh cửa kéo (02 bộ), kích thước mỗi cánh (3,32m x 2m) bị hỏng trị giá 21.150.000₫ (Hai mươi mốt triệu một trăm năm mươi ngàn đồng); 04 (Bốn) bộ bàn gỗ bị hư hỏng trị giá 2.880.000đ (Hai triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng); 01 (Một) bảng hiệu 3m9 bị hư hỏng trị giá 540.000đ (Năm trăm bốn mươi ngàn đồng); 10 (Mười) ghế nhựa bị hư hỏng trị giá 202.500đ (Hai trăm lẻ hai ngàn năm trăm đồng); 01 (Một) tủ kính điện thoại bị hư hỏng trị giá 1.350.000đ (Một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng); 02 (Hai) tấm kính bị hư hỏng trị giá 135.000đ (Một trăm ba mươi lăm ngàn đồng); 01 (Một) tủ kính bị đập vỡ tấm kính phía trước kích thước (1,2m x 0,72m) trị giá 450.000đ (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng); 01 (Một) dây đèn Led quấn quanh bảng hiệu và 06 thanh đèn Led trang trí trong tủ bị hư hỏng trị giá 225.000₫ (Hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Tổng giá trị bị thiệt hại là 26.932.500 đ.

Cáo trạng số 04/CT - VKS ngày 22/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông truy tố các bị cáo A C, A T1 về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 điều 178, điểm i, s khoản 1 Điều 51; điều 17, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo A C từ 15 đến 18 tháng tù;

Áp dụng Khoản 1 điều 178, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51; điều 17, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo A T1 từ 12 đến 15 tháng tù;

Về vấn đề dân sự: Áp dụng Điều 584, điều 587 Bộ luật dân sự. Buộc các bị cáo A C, A T1 phải bồi thường cho những người bị hại chị Nguyễn Thị Thanh T2 và chị Phùng Thị Thanh X số tiền là: 26.932.500 đồng. Mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền là 13.466.300 đồng.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án do không còn giá trị sử dụng và miễn toàn bộ tiền án phí cho các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, người bào chữa cho rằng các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, có trình độ nhận thức về pháp luật thấp. Vì vậy, để nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với các bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn toàn bộ tiền án phí cho bị cáo.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo A C, A T1 xin lỗi người bị hại và xin xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền, thủ tục tố tụng: Các bị cáo A C, A T1 đã có hành vi hủy hoại tài sản tại thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông theo quy định tại Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên; Viện kiểm sát và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa, các bị cáo A C và A T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong quá trình mua bán điện thoại 03 giờ sáng ngày 30/5/2024 bị cáo A C nảy sinh ý định đến cửa hàng Đ2 để đập phá, hủy hoại các tài sản làm cho các tài sản mất giá trị sử dụng nên A C rủ A T1 đến cửa hàng điện thoại Phùng X sử dụng dao rựa, khúc gỗ, hủy hoại các tài sản như: cửa kéo, tủ kính, bàn gỗ, ghế nhựa, tấm kính tại cửa hàng Đ2 gây tổng giá trị thiệt hại 26.932.500 (Hai mươi sáu triệu, chín trăm ba mươi hai ngàn, năm trăm đồng). Các bị cáo thực hiện hành vi hủy hoại tài sản khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, các bị cáo A C, A T1 bị Viện kiểm sát truy tố về tội "Hủy hoại tài sản" theo khoản 1 điều 178 Bộ luật hình sự với vai trò đồng phạm là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Đối với bị cáo A C là người khởi xướng, rủ rê bị cáo A T1 thực hiện hành vi phạm tội và cũng là người thực hành tích cực trực tiếp dùng dao chém hủy hoại tài sản của người khác nên phải tuyên phạt bị cáo mức án nghiêm khắc. Tuy nhiên, bị cáo phạm lần đầu thuộc trường họp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực học tập, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo A T1 bị cáo là người giúp sức tích cực, trực tiếp dùng gậy gỗ đập phá hủy hoại tài sản của người khác tuy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người bị hại chị Phùng Thị Thanh X xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo mới chấp hành xong hình phạt 12 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” ngày 06/05/2023 theo Bản án số 02/HSST ngày 24/05/2022 của TAND huyện Tu Mơ Rông chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa chung.

Các bị cáo không có thu nhập ổm định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa những người bị hại yêu cầu các bị cáo A C và A thiệp phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là 26.932.500 đ là thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Xét thấy, yêu cầu của các bị hại là chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 584, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 Bộ luật dân sự nên buộc các bị cáo A C, A T1 phải liên đới bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thanh T2 và chị Phùng Thị Thanh X tổng số tiền 26.932.500 đ. Các bị cáo có lỗi như nhau trong việc hủy hoại tài sản nên mỗi bị cáo phải bồi thường một nửa là 13.466.250₫.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và chị Nguyễn Thanh T2 và chị Phùng Thị Thanh X có đơn yêu cầu thi hành án mà các bị cáo chậm thi hành án thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật dân sự.

[5] Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 (Một) con dao rựa dài 53cm, lưỡi dao màu đen bằng kim loại dài 26cm, cán dao màu nâu hình trụ bằng gỗ dài 27cm, đường kính 2,5cm; 01 (Một) mẫu gỗ hình trụ màu nâu dài 24cm, đường kính 4cm. Những vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.:

[6] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, hiện đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Vì vậy, miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự cho các bị cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo A C, A T1 phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

* Áp dụng khoản 1 điều 178; Điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 17, Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo A C 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.

* Áp dụng khoản, điều 178; Điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17, Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo T1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo A C và A T1 phải liên đới bồi thường cho người bị hại chị Nguyễn Thị Thanh T2 và chị Phùng Thị Thanh X tổng số tiền là: 26.932.500 đồng. Mỗi bị cáo phải bồi thường 13.466.250đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và chị Nguyễn Thanh T2 và chị Phùng Thị Thanh X có đơn yêu cầu thi hành án mà các bị cáo chậm thi hành án thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật dân sự.

* Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) con dao rựa dài 53cm, lưỡi dao màu đen bằng kim loại dài 26cm, cán dao màu nâu hình trụ bằng gỗ dài 27cm, đường kính 2,5cm; 01 (Một) mẫu gỗ hình trụ màu nâu dài 24cm, đường kính 4cm có đặc điểm đúng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tu Mơ Rông lập ngày 23/08/2024.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 6, điểm a, c khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho các bị cáo A C và A T1.

* Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2024).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Tu Mơ Rông;
  • - Công an huyện Tu Mơ Rông;
  • - CCTHADS huyện Tu Mơ Rông;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Thị Bình Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM về hủy hoại tài sản

  • Số bản án: 04/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: A Cần, A Thiệp hủy hoại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger