Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04-01-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đại Đồng.

ông Nguyễn Tiến Bộ.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 295/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973.

    Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.

  2. Bị đơn: anh Trần Văn H, sinh năm 1975.

    Nơi thường trú: thôn A, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

    Hiện anh H đang chấp hành án tại Trại giam S – Cục C.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

Chị và anh Trần Văn H, sinh năm 1975 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh Hà Tây (nay là Thành phố Hà Nội) vào ngày 06/9/1997. Sau khi kết hôn 2 vợ chồng sinh sống tại xã A và làm lao động tự do. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2004 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do anh H không chung thủy, có người phụ nữ khác nên không quan tâm đến vợ con, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, căng thẳng. Mặc dù đã cố gắng để hàn gắn tình cảm và được gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả, anh H không thay đổi. Thực tế vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2005 đến nay, chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở thôn V, xã H ở từ đó đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị xin được ly hôn với anh H để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: quá trình chung sống, chị và anh Trần Văn H có 03 con chung là cháu Trần Thị H1, sinh ngày 31/7/1998, cháu Trần Văn H2, sinh ngày 05/02/2002 và cháu Trần Lan H3, sinh ngày 16/8/2005. Hiện cả 03 con chung đều đã trưởng thành, tự lập nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công sức và nợ chung: chị xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Trần Văn H, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội. Hiện anh H đang phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam S – Cục C – Bộ C1.

Tại Bản tự khai đề ngày 05/12/2023 của anh Trần Văn H tại Trại giam S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973 tự nguyện kết hôn, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 06/9/1997.

Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2003 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong quan điểm lối sống, phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Giữa anh và chị Đ đã ly thân từ năm 2005 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Năm 2015 anh vi phạm pháp luật và bị kết án 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Nay chị Đ xin ly hôn, quan điểm của anh là tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên anh H đồng ý ly hôn.

Về con chung: anh H xác nhận giữa anh và chị Đ có 03 con chung như chị Đ trình bày. Hiện cả 03 con chung đã trưởng thành, tự lập, có công việc tạo ra thu nhập nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công sức và nợ chung: anh H xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do hiện anh đang chấp hành hình phạt tù tại Phân trại số 1, Trại giam S nên không thể về Tòa án làm việc được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức phát biểu quan điểm:

Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn anh Trần Văn H mặc dù được triệu tập và giao các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vì đang phải chấp hành án tại trại giam, không thể về tham gia tố tụng được, anh H cũng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ. Cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự đã kéo dài, cuộc sống chung không tồn tại, hôn nhân không đạt được mục đích nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Trần Văn H.

Về con chung: hiện các con chung đều đã trưởng thành, tự lập các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản, công sức và nợ chung: chị Nguyễn Thị Đ và anh Trần Văn H đều xác nhận không có và đều không yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí: chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị Đ khởi kiện xin ly hôn anh Trần Văn H có hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội đã nộp tạm ứng án phí là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Anh Trần Văn H mặc dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng do đang phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam S nên vắng mặt và anh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Đ và anh Trần Văn H tự nguyện kết hôn, có đăng ký, là hôn nhân hợp pháp. Do bất đồng trong quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, dù đã tìm mọi biện pháp để hòa giải nhưng đều không có kết quả. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2005 đến nay, không còn quan tâm đến nhau.

Xét thấy các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Trần Văn H bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của chị Đ, quan điểm của anh H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: chị Nguyễn Thị Đ và anh Trần Văn H đều xác nhận có 03 con chung là cháu Trần Thị H1, sinh ngày 31/7/1998, cháu Trần Văn H2, sinh ngày 05/02/2002 và cháu Trần Lan H3, sinh ngày 16/8/2005. Xét các con chung đều đã thành niên, tự lập, các đương sự không có yêu cầu Toà án giải quyết nên Toà án không xem xét.

Về tài sản, công sức và nợ chung: chị Nguyễn Thị Đ và anh Trần Văn H đều xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết nên Toà án không xét.

- Về án phí: chị Nguyễn Thị Đ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Trần Văn H.
  2. Về con chung: xác nhận chị Nguyễn Thị Đ và anh Trần Văn H có 03 con chung là cháu Trần Thị H1, sinh ngày 31/7/1998, cháu Trần Văn H2, sinh ngày 05/02/2002 và cháu Trần Lan H3, sinh ngày 16/8/2005. Chị Nguyễn Thị Đ và anh Trần Văn H đều xác nhận hiện các con chung đều đã thành niên, tự lập nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
  3. Về tài sản chung, công sức và nợ chung: chị Nguyễn Thị Đ và anh Trần Văn H đều xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.
  4. Về án phí: chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007533 ngày 07/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
  5. Quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã A (nơi đăng ký kết hôn);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Đức Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 04/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger