|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 4/2024/LD-PT Ngày: 09-01-2024 V/v tranh chấp về bảo hiểm xã hội bồi thường tiền viện phí. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Kim Anh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thoa
Ông Nguyễn Ngọc Tài
Thẩm phán dự khuyết: Bà Phan Thị Út
Bà Doãn Thị Kim Thúy
Ông Đỗ Giang
Ông Phan Nguyên Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thành Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 tháng 12 năm 2023 và ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động phúc thẩm thụ lý số 76/2023/TLPT-LĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội bồi thường tiền viện phí”.
Do Bản án lao động sơ thẩm số 16/2023/LĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5738/2023/QĐ-PT ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:
☐ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số D, đường H, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
☐ Bị đơn: Trường Trung học cơ sở T3.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng C – Chức vụ: Hiệu trưởng.
Địa chỉ nhà trường: Số F, đường H, Khu phố D, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Bùi Khắc T, sinh năm 1972; Theo Giấy ủy quyền ngày 18/12/2023 của Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở T3.
Địa chỉ: Số E, đường Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
☐ Người kháng cáo: Nguyên đơn – ông Nguyễn Thanh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hoà giải, nguyên đơn trình bày:
Nguyên đơn làm việc tại Trường Trung học cơ sở T3 (sau đây gọi tắt là Nhà trường) từ ngày 24/8/2013 đến ngày 29/11/2014. Nguyên đơn phụ trách công việc kế toán tiền lương, phụ trách các thủ tục đóng bảo hiểm, theo dõi thực hiện các thủ tục về việc giải quyết chế độ cho toàn thể người lao động của bị đơn.
Trước khi vào làm việc tại Nhà trường, nguyên đơn có làm việc nhiều nơi và có tham gia bảo hiểm xã hội ở các đơn vị trước. Khi vào làm việc, nguyên đơn là người duy nhất phụ trách công việc kế toán; nguyên đơn đã sắp xếp tài liệu cá nhân của mỗi người lao động bao gồm bản chính sổ bảo hiểm xã hội, kèm với các chứng từ liên quan đến cá nhân từng người và trực tiếp lưu giữ các tài liệu này trong quá trình làm việc tại Nhà trường.
Tại thời điểm lập chứng từ đóng bảo hiểm xã hội của bản thân, nguyên đơn đã mang bản chính sổ bảo hiểm xã hội của bản thân do Quân đội cấp vào năm 2006 để Bảo hiểm xã hội quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đối chiếu. Sau khi hoàn tất thủ tục đối chiếu, nguyên đơn đã kèm bản chính sổ bảo hiểm xã hội cùng với các chứng từ khác liên quan đến bản thân để lưu giữ vào tập tài liệu chung với người lao động khác tại Nhà trường.
Ngày 27/11/2014, bị đơn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với nguyên đơn. Khi nghỉ việc, nguyên đơn đã bàn giao toàn bộ chứng từ kế toán và bàn giao các chìa khoá hộc tủ đựng chứng từ cho thầy Hiệu trưởng – Nguyễn Thanh L. Khi bàn giao, hiệu trưởng không có mặt tại trường nên nguyên đơn đã viết mẫu giấy viết tay "Kính gửi thầy L!..." để liệt kê chìa khóa tủ và chứng từ bàn giao, đồng thời gửi chìa khoá tủ kèm theo mẫu giấy trên. Trong đó có tủ đựng 63 (sáu mươi ba) quyển sổ bảo hiểm xã hội của người lao động. Mặc dù nguyên đơn không liệt kê cụ thể danh sách 63 (sáu mươi ba) quyển sổ bảo hiểm xã hội gồm những cá nhân nào nhưng nguyên đơn khẳng định có sổ bảo hiểm xã hội của nguyên đơn. Tuy nhiên, tại Biên bản mở niêm phong ngày 17/12/2014 của bị đơn có thể hiện tên của bà T1 là không đúng; bởi lẽ nguyên đơn là người trực tiếp trả bản chính sổ bảo hiểm xã hội cho bà T1 thì không thể nào trong 63 (sáu mươi ba) sổ bảo hiểm xã hội có tên bà T1. Điều này thể hiện việc bị đơn cho rằng trong 63 (sáu mươi ba) quyển sổ bảo hiểm xã hội không có sổ của nguyên đơn là không đúng.
Mặc dù nguyên đơn không đồng ý với phán quyết của Bản án phúc thẩm số 1337/2016/LĐ-PT ngày 14/12/2016 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Bản án phúc thẩm số 1337); nhưng về nghĩa vụ thanh toán tiền đã được thực hiện. Riêng nghĩa vụ chốt, trả sổ bảo hiểm xã hội thì bị đơn chậm thực hiện gây thiệt hại cho nguyên đơn bị gián đoạn thời gian không được đóng bảo hiểm xã hội, không được chi trả bảo hiểm y tế trong khoảng thời gian bị gián đoạn như: Bản án phúc thẩm số 1337 được tuyên vào ngày 14/12/2016, theo đó bị đơn có nghĩa vụ chốt sổ bảo hiểm xã hội đến tháng 02/2016, việc này đã gây thiệt hại cho nguyên đơn mất một khoảng thời gian bỏ lửng không đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 03/2016 đến tháng 12/2016. Đồng thời, sau khi Bản án phúc thẩm số 1337 có hiệu lực, bị đơn đã chậm thực hiện việc chốt sổ bảo hiểm xã hội đã kéo dài thêm thời gian không đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 12/2016 đến tháng 12/2019.
Khi thi hành nghĩa vụ thanh toán tiền vào năm 2017, nhưng bị đơn kéo dài thời gian đến tháng 6/2019 thì bị đơn mới thực hiện xong việc chốt sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn. Bị đơn giữ sổ bảo hiểm xã hội của nguyên đơn do Bảo hiểm xã hội Q cấp năm 2006, nhưng không biết vì lý do tại sao bị đơn làm mất sổ bảo hiểm xã hội của nguyên đơn lại không thông báo cho nguyên đơn biết để phối hợp cấp lại sổ do bị mất để tiến hành chốt sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn. Việc chậm chốt sổ là do lúc ông L giữ chức vụ Hiệu trưởng Nhà trường vào thời điểm Bản án phúc thẩm số 1337 có hiệu lực pháp luật nhưng không tiến hành thủ tục chốt sổ nên đã kéo dài thời gian gây thiệt hại cho nguyên đơn. Nguyên đơn là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nên khi muốn đóng bảo hiểm xã hội phải có quyết định cho thôi việc và phải có bản chính sổ bảo hiểm xã hội để đối chiếu. Vào thời điểm này, nguyên đơn không có quyết định nghỉ việc của bị đơn, bản chính sổ bảo hiểm xã hội thì bị đơn đang lưu giữ nên nguyên đơn không thể tự đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Cho đến khi thay đổi hiệu trưởng Nhà trường thì hiệu trưởng cũ không bàn giao đầy đủ, nên hiệu trưởng đương nhiệm không nắm rõ. Sau 03 (ba) năm nguyên đơn chờ không chốt sổ nên khởi kiện thì hiệu trưởng đương nhiệm mới tiến hành các thủ tục chốt sổ cho nguyên đơn, trong việc xác minh về thủ tục cấp lại sổ do bị mất và chốt sổ bảo hiểm xã hội được bắt đầu thực hiện từ tháng 3/2019 và hoàn tất vào tháng 6/2019 (chỉ trong thời hạn 03 (ba) tháng đã thực hiện xong); điều đó có nghĩa bị đơn không thực hiện, không phải đã thực hiện mà thủ tục kéo dài. Như vậy, bị đơn hoàn tất thủ tục chốt sổ vào tháng 6/2019 nhưng chỉ đóng bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn đến tháng 02/2016; việc này làm gián đoạn thời gian từ tháng 3/2016 đến tháng 12/2019 nguyên đơn không được đóng bảo hiểm xã hội đó là do lỗi của bị đơn nên nguyên đơn không đồng ý nhận sổ bảo hiểm xã hội; nguyên đơn đã yêu cầu bị đơn phải đóng bảo hiểm xã hội và chốt sổ bảo hiểm xã hội đến thời điểm trả sổ nhưng bị đơn không thực hiện, vụ việc kéo dài cho đến thời điểm hiện tại chưa giải quyết theo yêu cầu trên nên nguyên đơn không đồng ý nhận sổ bảo hiểm xã hội do bị đơn đã chốt. Trong thời gian chưa được nhận sổ bảo hiểm xã hội, năm 2018, nguyên đơn có đi khám, chữa bệnh nhưng không có sổ bảo hiểm xã hội nên không được chi trả viện phí. Nay yêu cầu Toà án buộc bị đơn phải có nghĩa vụ:
- - Đóng bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn trong thời gian bị gián đoạn từ tháng 3/2016 đến tháng 12/2019.
- - Bồi thường tiền viện phí trong thời gian nguyên đơn bị gián đoạn không được đóng bảo hiểm xã hội nên không được bảo hiểm chi trả viện phí với số tiền là 5.111.114 (năm triệu, một trăm mười một nghìn, một trăm mười bốn) đồng.
*Tại bản tự khai và biên bản hoà giải, bị đơn có người đại diện theo uỷ quyền – ông Bùi Khắc T trình bày:
Nguyên đơn vào làm việc tại Nhà trường theo Hợp đồng lao động số 179/HĐLV-THCSTT ngày 26/8/2013 với chức danh Kế toán. Do bị đơn là đơn vị sự nghiệp nên chỉ có 01 (một) kế toán duy nhất là nguyên đơn phụ trách các công việc như nguyên đơn đã trình bày.
Khi vào làm việc tại Nhà trường, nguyên đơn tự làm thủ tục nộp bảo hiểm xã hội cho bản thân kể từ khi tham gia lao động tại Nhà trường cho đến khi nghỉ việc. Nguyên đơn tự giữ sổ bảo hiểm xã hội của bản thân, không giao nộp cho bất kỳ nhân viên nào khác của bị đơn, đồng thời nguyên đơn là người giữ sổ bảo hiểm xã hội của toàn thể người lao động tại Nhà trường cho đến khi nghỉ việc. Khi nguyên đơn nghỉ việc, không bàn giao công việc lại cho bị đơn, không trực tiếp bàn giao hồ sơ, tài liệu, chứng từ cho bị đơn mà chỉ viết Mẫu giấy với nội dung gửi lại chìa khoá tủ và khoá cửa phòng cho thầy hiệu trưởng, liệt kê chỉ dẫn các tủ đựng các chứng từ, tài liệu gồm tủ 1A, 1B, 2A, 2B... Ngày 27/11/2014, bị đơn đã tiến hành lập Biên bản niêm phong tủ hồ sơ và lập báo cáo đến các cấp có thẩm quyền chờ ý kiến chỉ đạo tiếp theo. Cho đến khi bị đơn tuyển kế toán khác do nhu cầu cấp bách công việc, ngày 17/12/2014, bị đơn đã tiến hành lập Biên bản mở niêm phong tủ hồ sơ kế toán và kiểm tra các chứng từ, tài liệu do nguyên đơn để lại; trong đó có mở niêm phong tủ số 1B và Biên bản đã thể hiện rõ có 63 (sáu mươi ba) quyển sổ bảo hiểm xã hội của người lao động gồm 02 (hai) loại: 29 (hai mươi chín) sổ tờ, 34 (ba mươi tư) quyển sổ cuốn và xác định rõ không có bản chính sổ bảo hiểm xã hội của nguyên đơn.
Đến năm 2017, bị đơn thi hành quyết định của Bản án phúc thẩm số 1337 về nghĩa vụ thanh toán tiền nhưng chưa thực hiện được việc chốt sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn; bị đơn liên hệ với Cơ quan bảo hiểm xã hội quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và được giải thích về việc chốt sổ bảo hiểm xã hội phải có bản chính sổ bảo hiểm xã hội; tuy nhiên bị đơn không giữ bản chính sổ bảo hiểm xã hội của nguyên đơn nên không thể tiến hành việc chốt sổ. Bị đơn đã hướng dẫn thủ tục cấp lại sổ bảo hiểm xã hội thì phát hiện trước đó nguyên đơn đã làm việc rất nhiều nơi. Quá trình tiến hành thủ tục này rất vất vả, bị đơn yêu cầu nguyên đơn kê khai các đơn vị mà nguyên đơn tham gia lao động trước đó nhưng nguyên đơn không hợp tác. Đến khoảng tháng 02/2019, nguyên đơn cung cấp bản chứng thực sổ bảo hiểm xã hội do Bảo hiểm xã hội Bộ Q1 cấp năm 2006; bị đơn gửi ngay văn bản xác minh để nắm rõ thông tin cung cấp cho đơn vị bảo hiểm để thực hiện việc cấp lại do mất sổ bảo hiểm xã hội.
Khi có kết quả xác minh đầy đủ vào tháng 4/2019 của Q1. Lúc này nguyên đơn không đồng ý và cho rằng còn thiếu quá trình tham gia đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty Cổ phần X Nam Định, bị đơn tiếp tục gửi văn bản xác minh đến tháng 05/2019 thì có kết quả xác minh, bị đơn tiến hành ngay thủ tục chốt sổ bảo hiểm xã hội đến ngày 13/6/2019 thì bảo hiểm xã hội đã cấp sổ cho nguyên đơn, bàn giao cho nguyên đơn nhưng nguyên đơn không nhận nên đã bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để thi hành theo Bản án phúc thẩm số 1337.
Như vậy, việc chậm chốt sổ bảo hiểm xã hội không phải do lỗi của bị đơn mà là do nguyên đơn không hợp tác, ngay thời điểm đầu khi bị đơn thi hành Bản án phúc thẩm số 1337 thì nguyên đơn không cung cấp bản chính sổ bảo hiểm xã hội, không kê khai đầy đủ các đơn vị mà nguyên đơn đã tham gia lao động trước đó, gây khó khăn cho bị đơn trong suốt quá trình làm thủ tục chốt sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn.
Bị đơn đã thi hành toàn bộ các nghĩa vụ theo Bản án phúc thẩm số 1337 nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn không giữ sổ bảo hiểm xã hội của nguyên đơn, việc kéo dài thời gian cấp lại Sổ do nguyên đơn không hợp tác. Đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Tại Bản án lao động sơ thẩm số 16/2023/LĐ-ST ngày 11/9/2023, Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 91, 146, 147, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn trong thời gian bị gián đoạn từ tháng 3/2016 đến tháng 12/2019; bồi thường tiền viện phí trong thời gian nguyên đơn không được bảo hiểm chi trả viện phí là 5.111.114 (năm triệu, một trăm mười một nghìn, một trăm mười bốn) đồng.
Ngoài ra, Bản án lao động sơ thẩm còn tuyên về án phí lao động sơ thẩm, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 14/9/2023, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án lao động sơ thẩm số 16/2023/LĐ-ST ngày 11/9/2023 của Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
*Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Căn cứ cho yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là sổ bảo hiểm xã hội do nguyên đơn đưa cho thầy Hiệu trưởng, nhưng do tin tưởng mà không ký nhận, nhưng không được người đại diện của bị đơn thừa nhận. Nguyên đơn nêu việc bàn giao chỉ ghi số lượng sổ bảo hiểm xã hội mà không liệt kê cụ thể vì không phải nhiệm vụ của nguyên đơn. Đồng thời, nguyên đơn xác định khi nhận Sổ từ Bảo hiểm xã hội Bộ Q1 không nhớ đã chốt sổ trong thời gian làm việc tại Công ty Cổ phần X Nam Định.
Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn với lý do nguyên đơn không có căn cứ để cho rằng đã bàn giao sổ bảo hiểm xã hội cho bị đơn, trong khi nguyên đơn có nhiệm vụ giữ và làm thủ tục liên quan đến bảo hiểm xã hội. Tại Biên bản bàn giao cũng như tại Biên bản mở niêm phong không có sổ bảo hiểm xã hội của nguyên đơn. Do đó, đề nghị giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại Tòa án phúc thẩm, đủ cơ sở xác định bị đơn không có lỗi trong việc chậm cấp lại sổ bảo hiểm xã hội cũng như chốt sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 03/2016 đến tháng 12/2019 và bồi thường tiền viện phí trong thời gian nêu trên với số tiền 5.111.114đồng là không có căn cứ để chấp nhận, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn được làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận về hình thức.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn phải đóng bảo hiểm xã hội trong thời gian bị gián đoạn từ tháng 3/2016 đến tháng 12/2019. Bồi thường tiền viện phí trong thời gian không đóng bảo hiểm xã hội với số tiền 5.111.114đồng không được bảo hiểm y tế thanh toán. Lý do cho yêu cầu khởi kiện là do lỗi của bị đơn làm mất sổ bảo hiểm xã hội của nguyên đơn. Do đó, vấn đề Hội đồng xét xử cần đặt ra là bị đơn có phải đã làm mất sổ bảo hiểm xã hội như trình bày của nguyên đơn, làm cơ sở giải quyết yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
[3] Căn cứ Thư tay được nguyên đơn thừa nhận ghi ngày 27/11/2014, có nội dung: Kính gửi thầy L. Em gửi thầy chìa khóa tủ và khóa phòng... tủ 1B sổ bảo hiểm xã hội 63 quyển. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn nêu lý do phải viết thư tay nêu trên bàn giao các tài liệu do nguyên đơn đang quản lý.
[4] Căn cứ Biên bản về việc kế toán giao chìa khóa cho Hiệu trưởng, cùng ngày 27/11/2014. Có nội dung: Nguyên vào lúc 15 giờ 45 phút, T2 hiệu trưởng phát hiện trong phòng thầy có 01 hộp chìa khóa và tờ giấy viết tay. ...tiến hành thu thập thông tin mới biết kế toán kêu bảo vệ mở cửa phòng hiệu trưởng... để chìa khóa và kèm lời nhắn. Tiến hành xử lý bằng cách niêm phong các tủ kế toán và làm văn bản báo cáo lên cấp có thẩm quyền chờ ý kiến chỉ đạo giải quyết tiếp theo. Biên bản có hiệu trưởng, thủ quỹ và tổ trưởng làm thư ký cùng ký tên.
[5] Căn cứ Biên bản về việc mở niêm phong tủ hồ sơ kế toán và kiểm tra chứng từ lập ngày 17/12/2014, có nội dung: Tiến hành mở niêm phong các tủ hồ sơ của kế toán. Thông qua giấy giới thiệu của Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo quận B về giới thiệu kế toán mới...Do yêu cầu cấp bách về tình hình của nhà trường...quyết toán năm 2013 về phòng tài chính, kho bạc...Mở tủ 1B – có 1 xấp hồ sơ có niêm phong ngày 27/11/2014 do anh Nguyễn Thanh H ký niêm phong, với số lượng 63 cuốn sổ bảo hiểm xã hội. Mở niêm phong trong đó có sổ bảo hiểm xã hội: gồm 2 loại. Sổ tờ 29. Sổ cuốn 34. => không có sổ của anh Nguyễn Thanh H. Căn cứ vào Biên bản này, thể hiện việc mở niêm phong tủ là có chữ ký niêm phong của nguyên đơn. Chính nguyên đơn là người đếm có 63 (sáu mươi ba) sổ bảo hiểm xã hội, nhưng không phát hiện ra không có sổ bảo hiểm xã hội của mình là không có căn cứ để chấp nhận.
[6] Tại phiên tòa nguyên đơn thừa nhận, nhiệm vụ của kế toán là quản lý toàn bộ các khoản thu chi của nhà Trường, trong đó có việc đóng bảo hiểm xã hội, liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội để thực hiện các công việc liên quan. Việc viết thư tay ghi giao lại khóa tủ trong đó có sổ bảo hiểm xã hội của giáo viên và người lao động toàn trường, không phải trách nhiệm quản lý của nguyên đơn. Tủ được bàn giao là của văn thư vì kế toán không có tủ riêng, nhưng toàn bộ chìa khóa tủ là do nguyên đơn giữ là có mâu thuẫn. Sổ bảo hiểm xã hội của nguyên đơn được giao trực tiếp cho Hiệu trưởng, nhưng không được người đại diện của bị đơn thừa nhận với lý do Hiệu trưởng không có trách nhiệm nhận và giữ sổ bảo hiểm xã hội của người lao động, nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh là giao sổ trực tiếp cho Hiệu trưởng. Do đó, không có căn cứ vững chắc cho việc nguyên đơn đã giao sổ bảo hiểm xã hội của nguyên đơn cho hiệu trưởng.
[7] Mặt khác, thời điểm Bản án phúc thẩm số 1337 có hiệu lực ngày 14/12/2016. Nguyên đơn yêu cầu chốt sổ bảo hiểm xã hội, trong quá trình yêu cầu nguyên đơn cho rằng bị đơn giữ sổ bảo hiểm xã hội do quân đội cấp, trước đó còn có thời gian làm việc tại Công ty Cổ phần X Nam Định. Tuy nhiên, căn cứ Công văn số 39/CPXL1 ngày 05/5/2019 của Công ty Cổ phần X Nam Định trả lời xác minh của bị đơn có nội dung: Căn cứ hồ sơ quản lý nhân lực đang lưu tại Công ty xác nhận nguyên đơn có thời gian làm tại Công ty là loại hợp đồng lao động thời vụ (3 tháng) không liên tục, do đặc thù của công ty là thi công xây dựng... vì vậy người lao động chưa đủ điều kiện tham gia bảo hiểm xã hội. Đủ cơ sở, xác định sổ bảo hiểm xã hội của nguyên đơn không có thời gian đóng tại đơn vị này. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn nêu không nhớ sổ bảo hiểm xã hội của mình đã được Công ty Cổ phần X Nam Định chốt sổ hay chưa, trong khi công việc chính của nguyên đơn là thực hiện đóng bảo hiểm xã hội và thừa nhận trực tiếp mang sổ bảo hiểm xã hội đến cơ quan bảo hiểm xã hội quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đối chiếu, nhưng không nhớ có chốt sổ thời gian làm việc tại đây không là không có căn cứ để chấp nhận. Thể hiện nguyên đơn đang gây khó khăn cho bị đơn trong việc chốt sổ và thực hiện cấp mới sổ bảo hiểm xã hội như trình bày của bị đơn, làm kéo dài thời gian chốt sổ.
[8] Từ những căn cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Do nguyên đơn không chứng minh bị đơn làm mất sổ bảo hiểm xã hội của mình và việc kéo dài việc chốt sổ bảo hiểm xã hội và cấp mới sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn là do chính nguyên đơn là người gây khó khăn. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 16/2023/LĐ-ST ngày 11/9/2023 của Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh H về việc buộc Trường Trung học cơ sở T3 phải có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho ông Nguyễn Thanh H trong thời gian bị gián đoạn từ tháng 3/2016 đến tháng 12/2019; bồi thường tiền viện phí trong thời gian ông Nguyễn Thanh H không được bảo hiểm chi trả viện phí là 5.111.114 (năm triệu, một trăm mười một nghìn, một trăm mười bốn) đồng.
2. Về án phí lao động: Ông Nguyễn Thanh H không phải chịu toàn bộ án phí lao động.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Kim Anh |
Bản án số 4/2024/LD-PT ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về bảo hiểm xã hội bồi thường tiền viện phí
- Số bản án: 4/2024/LD-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội bồi thường tiền viện phí
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội bồi thường tiền viện phí
