Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03a/2025/HNGĐ-ST

Ngày 19-02-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chiên;

Ông Đèo Văn Vĩnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Lò Xuân Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 11 năm 2024, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lý Thị K, sinh năm: 1998, địa chỉ: Bản C, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Vàng Văn D, sinh năm: 1993, địa chỉ: Bản C, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lý Thị K trình bày:

Chị Lý Thị K và anh Vàng Văn D là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 22/4/2016, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu. Chị K và anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, chị K và anh D chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2020 thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh D đã sử dụng chất ma túy, giữa chị K, anh D xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Gia đình hai bên vợ chồng đã khuyên bảo nhưng không có kết quả. Chị K và anh D đã sống ly thân từ năm 2020, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, không liên lạc với nhau. Hiện nay, chị K không còn tình cảm với anh D nữa, vợ chồng không còn có sự quan tâm, chia sẻ với nhau, tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị K đề nghị Tòa án giải quyết cho chị K được ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị Lý Thị K và anh Vàng Văn D và có 02 con chung là cháu Vàng Anh T, sinh ngày 19/01/2016 và cháu Vàng Thu M, sinh ngày 19/3/2019. Chị K làm nghề nông nghiệp, ngoài ra, chị còn đi làm thêm, có thu nhập ổn định. Sau khi ly hôn, chị K có đủ điều kiện, đủ khả năng để nuôi con và có nguyện vọng được nuôi các con. Chị K không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lý Thị K và anh Vàng Văn D không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Tại phiên hòa giải, bị đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Tòa án đã thông báo phiên hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, nguyên đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được.

Theo lời khai của cháu Vàng Anh T: Hiện nay, cháu đang ở với ông bà nội, được ông bà yêu thương, quan tâm, chăm sóc. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố và mẹ.

Kết quả xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ của Tòa án, xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chị Lý Thị K, anh Vàng Văn D và điều kiện nuôi con của chị K, anh D đúng như lời khai của đương sự. Anh D thường xuyên vắng nhà, không có công việc ổn định, bản thân có tiền sử sử dụng trái phép chất ma túy.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đã đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện không đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lý Thị K, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị K được ly hôn với anh Vàng Văn D. Về con chung: Giao cháu Vàng Anh T và cháu Vàng Thu M cho chị Lý Thị Kim trực T1 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Lý Thị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là chị Lý Thị K có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị K và bị đơn là anh Vàng Văn D. Chị K và anh D đều cư trú tại bản C, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vì vậy, đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị K và anh Vàng Văn D là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu theo đúng quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị K và anh D chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D có tiền sử sử dụng chất ma túy, giữa hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không chia sẻ, thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn giữa chị K và anh D đã được đình hai bên vợ chồng khuyên bảo nhưng không có kết quả. Từ khi chị K và anh D sống ly thân, anh, chị không còn có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương với nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Hiện nay, chị K không còn tình cảm với anh D nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D. Tòa án đã thông báo phiên hòa giải và triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, anh D vắng mặt nên không hòa giải được. Giữa chị K và anh D không còn có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, yêu thương nhau, quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K, giải quyết cho chị K được ly hôn với anh D theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Lý Thị K và anh Vàng Văn D và có 02 con chung là cháu Vàng Anh T, sinh ngày 19/01/2016 và cháu Vàng Thu M, sinh ngày 19/3/2019. Từ khi chị K, anh D sống ly thân, các con của anh chị sống cùng với bố mẹ đẻ của anh D, được ông bà quan tâm, chăm sóc. Chị K có nguyện vọng được nuôi các con. Khi được Tòa án hỏi ý kiến, cháu T có nguyện vọng được ở với bố và mẹ. Hiện nay, chị K có đủ sức khỏe, có đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con. Ngoài ra, chị K có bố mẹ đẻ thường xuyên quan tâm, hỗ trợ chị K chăm sóc, giáo dục các con. Anh D thường xuyên vắng nhà, có tiền sử sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, xét về điều kiện nuôi dạy chăm sóc con thì chị K có điều kiện tốt hơn anh D. Để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T, cháu M cho chị K là người trực tiếp nuôi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh D có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lý Thị K không yêu cầu anh Vàng Văn D cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Lý Thị K và anh Vàng Văn D không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị K được ly hôn với anh Vàng Văn D.

- Về con chung: Giao cháu Vàng Anh T, sinh ngày 19/01/2016 và cháu Vàng Thu M, sinh ngày 19/3/2019, cho chị Lý Thị Kim trực T1 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lý Thị K không yêu cầu anh Vàng Văn D cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản: Chị Lý Thị K và anh Vàng Văn D không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lý Thị K được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - THADS huyện Phong Thổ;
  • - UBND xã Nậm Xe (Nơi ĐKKH);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03a/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 03a/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị K xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger