|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 3995/2024/DS-ST
Ngày: 27-08-2024.
V/v Tranh chấp về hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Lợi.
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1275/2022/TLST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 5213/2024/QĐXXST-DS ngày 09/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6065/2024/QĐST-DS ngày 30/07/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N2.
Trụ sở: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Kiều Thị Hồng L, sinh năm: 1974; địa chỉ liên hệ: Số I Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - Là đại diện theo ủy quyền (theo giấy ủy quyền số 1046/NHNo-ĐSG ngày 14/11/2022).
Bị đơn:
- Bà Ngô Hồng N, sinh năm: 1997.
- Ông Nguyễn Xuân S, sinh năm: 1970.
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1972.
Địa chỉ: A Đường B, khu phố B, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: Số C Đường B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn C, sinh năm: 1967.
- Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm: 1968.
- Chị Phạm Ngọc Bảo T1.
Cùng địa chỉ: Số F Đường B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bà L vắng mặt, có đơn xin vắng mặt, bà N, ông S, bà D, ông C, bà T, chị T1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng N2 trình bày:
Ngày 16/01/2020, giữa bà Ngô Hồng N và Ngân hàng N2 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng A) có ký kết Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000130, chi tiết như sau: Tổng mức cấp tín dụng: 2.000.000.000 đồng; Phương thức cho vay: Từng lần; Mục đích sử dụng vốn vay: Hoàn thanh toán tiền nhận chuyển nhượng nhà đất tại số A đường Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Thời hạn cho vay: 240 tháng (kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày đầu tiên Bên A giải ngân lần đầu cho bên B); Lãi suất cho vay: Theo quy định của Ngân hàng A tại thời điểm nhận nợ; Phương thức trả lãi: 06 tháng một lần vào ngày 30; Phương thức trả gốc: 06 tháng một lần vào ngày 30; Tài sản đảm bảo tiền vay: Cho vay có tài sản đảm bảo 100%.
Ngày 16/01/2020, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Xuân S và Ngân hàng A có ký kết Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000131, chi tiết như sau: Tổng mức cấp tín dụng: 2.000.000.000 đồng; Phương thức cho vay: Từng lần; Mục đích sử dụng vốn vay: Hoàn thanh toán tiền nhận chuyển nhượng nhà đất tại địa chỉ số B P, Phường G, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Thời hạn cho vay: 240 tháng (kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày đầu tiên Bên A giải ngân lần đầu cho bên B); Lãi suất cho vay: Theo quy định của Ngân hàng A tại thời điểm nhận nợ; Phương thức trả lãi: 06 tháng một lần vào ngày 30; Phương thức trả gốc: 06 tháng một lần vào ngày 30; Tài sản đảm bảo tiền vay: Cho vay có tài sản đảm bảo 100%.
Cả hai khoản vay trên được đảm bảo bằng tài sản là: Quyền sử dụng 183,2m² đất ở tại đô thị và 91,9 m² nhà ở tại 6 Đường B, khu phố C, Phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BV 306973, số vào sổ cấp GCN: CH 04115UBND Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/09/2014. Chủ sở hữu tài sản: ông Phạm Văn C, bà Trần Thị Ngọc T2 giá tài sản được định giá tại thời điểm thế chấp là 5.972.680.000 đồng, trong đó:
1. Trị giá tài sản 2.900.000.000 đồng đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bà N tại Hợp đồng cấp tín dụng số 6280LAV202000130 ngày 16/01/2020 được ký giữa hai bên trong đó số tiền gốc là: 2.000.000.000 đồng và toàn bộ lãi trong hạn, quá hạn phát sinh theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280LCP202000149 được Văn Phòng C1 chứng nhận ngày 16/01/2020, hợp đồng thế chấp đã đăng ký và được Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố T) chứng nhận đăng ký (Thời điểm đăng ký: ngày 16 tháng 01 năm 2019).
Ngân hàng đã tiến hành cơ cấu nợ cho bà N do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Tuy nhiên, đến kỳ hạn trả nợ gốc và lãi (tháng 02/2022), bà N đã không thực hiện theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký, vậy nên toàn bộ khoản nợ vay của bà N đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 08/02/2022.
Tổng nợ gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 27/08/2024: 2.989.058.016 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, N1 lãi: 989.058.016 đồng (lãi trong hạn: 968.169.866 đồng; lãi quá hạn: 20.888.150 đồng).
2. Trị giá tài sản 3.072.680.000 đồng đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Xuân S tại Hợp đồng cấp tín dụng số 6280LAV202000131 ngày 16/01/2020 được ký giữa 2 bên trong đó số tiền gốc là: 2.000.000.000 đồng và toàn bộ lãi trong hạn, quá hạn phát sinh theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280LCP202000150 được Văn Phòng C1 chứng nhận ngày 16/01/2020, hợp đồng thế chấp đã đăng ký và được Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố T) chứng nhận đăng ký (Thời điểm đăng ký: ngày 16 tháng 01 năm 2020).
Ngân hàng đã tiến hành cơ cấu nợ cho bà D, ông S do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Tuy nhiên, đến kỳ hạn trả nợ gốc và lãi (tháng 02/2022), bà D, ông S đã không thực hiện theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký, vậy nên toàn bộ khoản nợ vay của bà D, ông S đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 08/02/2022.
Tổng nợ gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 27/08/2024: 2.989.058.016 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, N1 lãi: 989.058.016 đồng (lãi trong hạn: 968.169.866 đồng; lãi quá hạn: 20.888.150 đồng).
Ngân hàng A đã nhiều lần gửi thông báo làm việc yêu cầu khách hàng thực hiện việc trả nợ, nhưng phía khách hàng tỏ ra chây ỳ và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng A. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nay Ngân hàng A tiến hành khởi kiện bà N, bà D, ông S, kính đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xem xét và giải quyết các yêu cầu sau:
Buộc bà Ngô Hồng N phải thanh toán cho Ngân hàng A tổng nợ gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 27/08/2024: 2.989.058.016 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, N1 lãi: 989.058.016 đồng (lãi trong hạn: 968.169.866 đồng; lãi quá hạn: 20.888.150 đồng). Bà N phải chịu lãi trong hạn và lãi phạt quá hạn phát sinh kể từ ngày 28/08/2024, tính theo lãi suất được thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000130 ngày 16/01/2020 cho đến khi trả dứt nợ.
Buộc bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Xuân S phải thanh toán cho Ngân hàng A tổng nợ gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 27/08/2024: 2.989.058.016 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, N1 lãi: 989.058.016 đồng (lãi trong hạn: 968.169.866 đồng; lãi quá hạn: 20.888.150 đồng). Bà D, ông S phải tiếp tục chịu lãi trong hạn và lãi phạt quá hạn phát sinh kể từ ngày 28/08/2024, tính theo lãi suất được thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000131 ngày 16/01/2020 cho đến khi trả dứt nợ.
Bà N, ông S, bà D phải trả cho Ngân hàng A chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là: 5.000.000 đồng.
Trường hợp bà N, ông S, bà D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì A có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm cho các khoản vay nói trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật: Quyển sử dụng 183,2 m² đất ở tại đô thị và 91,9 m² nhà ở tại địa chỉ: 6 Đường B, khu phố C, Phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BV 306973, số vào sổ cấp GCN: CH 04115Ủy ban N3 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/09/2014. Chủ sở hữu tài sản: ông Phạm Văn C và bà Trần Thị Ngọc T3 hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà N, ông S, bà D vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ còn lại.
Bị đơn bà Ngô Hồng N, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Xuân S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn C và bà Trần Thị Ngọc T, chị Phạm Ngọc Bảo T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và phía nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Việc các bên ký kết, thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng là phù hợp với các quy định của pháp luật. Các bị đơn đã vi phạm các nghĩa vụ trong Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết, Hợp đồng thế chấp và các thủ tục thế chấp được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng, do đó quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bà Lê đại d theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Các bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Xét thấy việc vắng mặt của đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét về thời hiệu khởi kiện. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không xem xét về thời hiệu khởi kiện vụ án.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày, xác nhận của người đại diện hợp pháp của các đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 16/01/2020, giữa bà N và Ngân hàng A có ký kết Hợp đồng tín dụng số 66280LAV202000130 và Phụ lục, các bên đã thỏa thuận về mức cấp tín dụng, phương thức cho vay, mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, phương thức trả tiền gốc, lãi, lãi suất, tài sản bảo đảm cho khoản vay và một số thỏa thuận khác như nguyên đơn đã trình bày.
Ngày 16/01/2020, giữa bà D, ông s và Ngân hàng A có ký kết Hợp đồng tín dụng số 66280LAV202000130 và Phụ lục, các bên đã thỏa thuận về mức cấp tín dụng, phương thức cho vay, mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, phương thức trả tiền gốc, lãi, lãi suất, tài sản bảo đảm cho khoản vay và một số thỏa thuận khác như nguyên đơn đã trình bày.
Cả hai khoản vay trên được đảm bảo bằng tài sản là: Quyền sử dụng 183,2m² đất ở tại đô thị và 91,9 m² nhà ở tại 6 Đường B, khu phố C, Phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BV 306973, số vào sổ cấp GCN: CH 04115UBND Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/09/2014. Chủ sở hữu tài sản là ông Phạm Văn C, bà Trần Thị Ngọc T2 giá tài sản được định giá tại thời điểm thế chấp là 5.972.680.000 đồng, trong đó:
Trị giá tài sản 2.900.000.000 đồng đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bà N tại Hợp đồng cấp tín dụng số 6280LAV202000130 ngày 16/01/2020 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280LCP202000149 ngày 16/01/2020. Trị giá tài sản 3.072.680.000 đồng đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị D tại Hợp đồng cấp tín dụng số 6280LAV202000131 ngày 16/01/2020 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280LCP202000150 ngày 16/01/2020. Cả hai Hợp đồng thế chấp nêu trên đã đăng ký và chứng nhận đăng ký ngày 16/01/2020 theo quy định.
Ngân hàng đã tiến hành cơ cấu nợ cho bà N do ảnh hưởng của dịch Covid-19 cho bà N, bà D, ông S. Tuy nhiên, đến kỳ hạn trả nợ gốc và lãi tháng 02/2022 thì các bị đơn đã không thực hiện theo đúng thỏa thuận nên Ngân hàng A đã chuyển toàn bộ khoản nợ vay của các bị đơn sang nợ quá hạn kể từ ngày 08/02/2022.
Xét các bên tự nguyện ký kết các Hợp đồng tín dụng và Phụ lục, Hợp đồng thế chấp, các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp này có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận về mức cấp tín dụng, phương thức cho vay, mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, phương thức trả tiền gốc, lãi, lãi suất, tài sản bảo đảm cho khoản vay và một số thỏa thuận khác không vi phạm điều cấm của pháp luật, phù hợp với các quy định tại Điều 4, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Đồng thời, các bị đơn đã vi phạm các nghĩa vụ thanh toán tiền cho phía nguyên đơn, do đó có đủ cơ sở để xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và việc buộc bà N phải trả cho nguyên đơn các khoản tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 27/08/2024 tổng cộng là: 2.989.058.016 đồng (Trong đó tiền nợ gốc là: 2.000.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 968.169.866 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là: 20.888.150 đồng), buộc ông S, bà D phải trả cho nguyên đơn các khoản tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 27/08/2024 tổng cộng là: 2.989.058.016 đồng (Trong đó tiền nợ gốc là: 2.000.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 968.169.866 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là: 20.888.150 đồng).
Căn cứ hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì việc nguyên đơn yêu cầu các bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 28/08/2024 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Phụ lục các bên đã ký kết cho đến khi thi hành án xong là có cơ sở để chấp nhận.
Đối với yêu cầu về xử lý các tài sản thế chấp là Quyền sử dụng 183,2m² đất ở tại đô thị và 91,9 m² nhà ở tại 6 Đường B, khu phố C, Phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo thu hồi nợ: Căn cứ thỏa thuận của các bên tại các Hợp đồng thế chấp số 6280LAV202000130 và 6280LAV202000131 cùng ngày 16/01/2020, căn cứ Điều 293, Điều 295, Điều 296, Điều 298, Điều 299, Điều 307, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 323, Điều 324 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận khi phía bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các quy định của pháp luật.
[4] Về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo:
Về án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 147, Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các bị đơn phải chịu án phí và các bị đơn phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn không phải chịu án phí, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 158; Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 293, Điều 295, Điều 296, Điều 298, Điều 299, Điều 307, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 323, Điều 324 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- - Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
1.1. Buộc bà Ngô Hồng N phải trả cho Ngân hàng N2 số tiền tính đến ngày 27/08/2024 là: 2.989.058.016 đồng (Hai tỷ, chín trăm tám mươi chín triệu, không trăm năm mươi tám nghìn, không trăm mười sáu đồng). Trong đó tiền nợ gốc là: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), tiền nợ lãi trong hạn là 968.169.866 đồng (Chín trăm sáu mươi tám triệu, một trăm sáu mươi chín nghìn, tám trăm sáu mươi sáu đồng), tiền nợ lãi quá hạn là: 20.888.150 đồng (Hai mươi triệu, tám trăm tám mươi tám nghìn, một trăm năm mươi đồng), trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (là ngày 28/08/2024) cho đến thi hành án xong toàn bộ khoản nợ, bà N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000130 ngày 16/01/2020.
1.2. Buộc bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Xuân S phải trả cho Ngân hàng N2 số tiền tính đến ngày 27/08/2024 là: 2.989.058.016 đồng (Hai tỷ, chín trăm tám mươi chín triệu, không trăm năm mươi tám nghìn, không trăm mười sáu đồng). Trong đó tiền nợ gốc là: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), tiền nợ lãi trong hạn là 968.169.866 đồng (Chín trăm sáu mươi tám triệu, một trăm sáu mươi chín nghìn, tám trăm sáu mươi sáu đồng), tiền nợ lãi quá hạn là: 20.888.150 đồng (Hai mươi triệu, tám trăm tám mươi tám nghìn, một trăm năm mươi đồng), trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (là ngày 28/08/2024) cho đến thi hành án xong toàn bộ khoản nợ, ông S và bà D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000131 ngày 16/01/2020.
Trường hợp bà Ngô Hồng N, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Xuân S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng 183,2m² đất ở tại đô thị và 91,9 m² nhà ở tại 6 Đường B, khu phố C, Phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BV 306973, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH 04115Ủy ban N3 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/09/2014 đứng tên ông Phạm Văn C, bà Trần Thị Ngọc T để thu hồi nợ. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà N, ông S, bà D vẫn phải có nghĩa vụ trả các khoản nợ còn lại cho Ngân hàng N2.
Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí, chi phí tố tụng:
Án phí dân sự sơ thẩm bà Ngô Hồng N phải chịu là: 91.781.160 đồng (Chín mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi đồng). Bà N chưa nộp án phí. Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Xuân S phải chịu là: 91.781.160 đồng (Chín mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi đồng). Bà D, ông S chưa nộp án phí.
H lại cho Ngân hàng N2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 56.546.108 đồng (Năm mươi sáu triệu, năm trăm bốn mươi sáu nghìn, một trăm lẻ tám đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2022/0007250 ngày 07/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Về chi phí tố tụng: Bà Ngô Hồng N, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Xuân S phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N2 chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, trong đó phần của bà N là 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng), phần của bà D, ông S là 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
3. Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng N2, bà Ngô Hồng N, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Xuân S, ông Phạm Văn C và bà Trần Thị Ngọc T, chị Phạm Ngọc Bảo T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt, niêm yết, thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Trung Thực |
Bản án số 3995/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 3995/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Agribank- Ngô Thi N
