|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 3994/2024/DS-ST
Ngày: 27-08-2024.
V/v Tranh chấp về hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Lợi.
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 5216/2024/QĐXXST-DS ngày 09/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 6061/2024/QĐST-DS ngày 27/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q
Địa chỉ: Tầng A và tầng B tòa nhà S, số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Anh T, ông Hà Đăng V, bà Nguyễn Hoàng Hương G, ông Nguyễn Thế V1, cùng địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà P, số B U, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - Là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 082972.24 ngày 22/04/2024).
Bị đơn:
- Ông Mai Tuấn H, sinh năm: 1994.
- Bà Trần Thị H1, sinh năm: 1993.
Cùng địa chỉ: Căn hộ B chung cư S, số D V, tổ I, khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông T, ông V, bà G, ông V1 có mặt. Ông H, bà H1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, và các biên bản trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có các đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (sau đây gọi tắt là Ngân hàng V2) và ông Mai Tuấn H, bà Trần Thị H1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 3954199.20 ngày 28/12/2020 với nội dung: Số tiền giải ngân: 630.000.000 đồng, mục đích giải ngân: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhân hiệu M 3, thời hạn vay: 96 tháng, từ ngày 29/12/2020 đến ngày 28/12/2028, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 8,9%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là Lãi suất cơ sở trong kỳ + biên độ 3,5%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo quy định của Ngân hàng V2 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,1%/năm. Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 25, mỗi tháng trả 6.562.000 đồng, số tiền còn lại trả vào cuối kỳ. Hoàn trả lãi vào ngày 25 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 25/01/2021. Trả phí theo quy định của V2 từng thời kỳ, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ngân hàng V2 đã giải ngân cho ông H, bà H1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 5716430.20 ngày 28/12/2020 với số tiền 630.000.000 đồng theo nội dung thỏa thuận nêu trên.
Ngày 26/12/2020 ông H, bà H1 có đơn Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản. Theo đó, Ngân hàng V2 đã phát hành thẻ tín dụng cho ông H, bà H1 với hạn mức tín dụng là: 40.000.000 đồng, loại thẻ: Happy drive, mục đích vay: tiêu dùng, lãi suất vay: theo quy định của Ngân hàng V2 trong từng thời kỳ.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông H, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tính đến ngày 27/08/2024 thì ông H, bà H1 đã thanh toán cho Ngân hàng V2 số tiền là 115.520.627 đồng (trong đó: tiền gốc là 59.058.000 đồng, tiền lãi là 56.462.627 đồng).
Tạm tính đến ngày 27/08/2024, ông H và bà H1 còn nợ Ngân hàng V2 số tiền là: 982.646.524 đồng, trong đó gồm có: Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 3954199.20 ngày 28/12/2020 là 897.765.068 đồng (trong đó nợ gốc là: 570.942.000 đồng, nợ lãi là: 72.594.517 đồng, nợ lãi quá hạn là: 239.781.892 đồng, nợ lãi chậm trả là: 14.446.659 đồng) và dư nợ Thẻ tín dụng là: 84.881.456 đồng. Do đó, Ngân hàng V2 đề nghị Tòa án buộc ông Mai Tuấn H, bà Trần Thị H1 trả ngay cho Ngân hàng V2 số tiền 982.646.524 đồng nêu trên và ông H, bà H1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, tiền lãi quá hạn kể từ ngày 28/08/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký.
Bị đơn ông Mai Tuấn H, bà Trần Thị H1 cùng trình bày:
Ông H, bà H1 xác định có ký Hợp đồng tín dụng để vay số tiền 630.000.000 đồng và ký Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản với hạn mức 40.000.000 đồng. Trong quá trình ký kết các Hợp đồng thì có ghi sai địa chỉ của ông H, bà H1 là tại 3 đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, trên thực tế thời điểm đó ông H, bà H1 đang ở địa chỉ số D đường V, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (chung cư S). Về khoản nợ vay, ông H và bà H1 cùng xác định số tiền vay là nợ chung của vợ chồng và xác định tạm tính đến ngày 05/9/2023 ông H và bà H1 còn nợ Ngân hàng V2 số tiền 841.498.559 đồng, trong đó nợ gốc của Hợp đồng tín dụng là 570.942.000 đồng, nợ lãi là 185.675.103 đồng, nợ thẻ tín dụng là 84.881.456 đồng. Ông H, bà H1 đồng ý thanh toán cho Ngân hàng V2 số tiền nợ nêu trên, tuy nhiên do ông bà đang gặp khó khăn nên chưa thể thanh toán một lần toàn bộ số tiền.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn ông H, bà H1 vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Ông H, bà H1 đã vi phạm các nghĩa vụ trong Hợp đồng, văn bản tín dụng các bên đã ký kết, nguyên đơn yêu cầu trả nợ gốc, tiền lãi đúng theo thỏa thuận của các bên, bị đơn cũng xác nhận một phần khoản nợ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng và các văn bản tín dụng khác, do đó quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Mai Tuấn H, bà Trần Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Xét thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các ông bà nêu trên.
Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét về thời hiệu khởi kiện. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không xem xét về thời hiệu khởi kiện vụ án.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày, xác nhận của người đại diện hợp pháp của các đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Ngân hàng V2 đã ký với ông Mai Tuấn H, bà Trần Thị H1 Hợp đồng tín dụng số 3954199.20 ngày 28/12/2020 với nội dung thỏa thuận: Số tiền vay: 630.000.000 đồng, mục đích vay: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhân hiệu M 3, thời hạn vay: 96 tháng, từ ngày 29/12/2020 đến ngày 28/12/2028, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 8,9%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là Lãi suất cơ sở trong kỳ + biên độ 3,5%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo quy định của Ngân hàng V2 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,1%/năm.
Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 25, mỗi tháng trả 6.562.000 đồng, số tiền còn lại trả vào cuối kỳ. Hoàn trả lãi vào ngày 25 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 25/01/2021. Trả phí theo quy định của V2 từng thời kỳ, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ngân hàng V2 đã giải ngân cho ông H, bà H1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 5716430.20 ngày 28/12/2020 với số tiền 630.000.000 đồng theo nội dung thỏa thuận nêu trên.
Ngày 26/12/2020 ông H, bà H1 có Đơn đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản. Theo đó, Ngân hàng V2 đã phát hành thẻ tín dụng cho ông H, bà H1 với hạn mức tín dụng là: 40.000.000 đồng, loại thẻ: Happy drive, mục đích vay: tiêu dùng, lãi suất vay: theo quy định của Ngân hàng V2 trong từng thời kỳ.
Xét các bên tự nguyện ký kết các Hợp đồng tín dụng, Đơn đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản, các văn bản này có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, phù hợp với các quy định tại Điều 4, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Việc các bên thỏa thuận về thời hạn vay, trả nợ gốc, nợ lãi, ngày chuyển nợ quá hạn, lãi suất vay, cách tính lãi trong hạn, lãi quá hạn, việc trả nợ gốc, lãi hàng tháng... trong Hợp đồng tín dụng, Đơn đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản là phù hợp với các quy định của pháp luật, ông H và bà H1 cũng xác nhận số dư nợ tính đến ngày 05/9/2023 mà ông H và bà H1 còn nợ Ngân hàng V2 số tiền 841.498.559 đồng, trong đó nợ gốc của Hợp đồng tín dụng là 570.942.000 đồng, nợ lãi là 185.675.103 đồng, nợ thẻ tín dụng là 84.881.456 đồng. Đây là khoản nợ chung và ông H, bà H1 đồng ý thanh toán cho Ngân hàng V2 số tiền nợ nêu trên, tuy nhiên do ông bà đang gặp khó khăn nên chưa thể thanh toán một lần toàn bộ số tiền. Do đó, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng V2 về việc buộc ông H, bà H1 thanh toán cho Ngân hàng V2 tổng số tiền tính đến ngày 27/08/2024 là: 982.646.524 đồng, trong đó gồm có: Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 3954199.20 ngày 28/12/2020 là 897.765.068 đồng (trong đó nợ gốc là: 570.942.000 đồng, nợ lãi là: 72.594.517 đồng, nợ lãi quá hạn là: 239.781.892 đồng, nợ lãi chậm trả là: 14.446.659 đồng) và dư nợ Thẻ tín dụng là: 84.881.456 đồng.
Căn cứ hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì việc nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 28/8/2024 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng tín dụng, Đơn đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản các bên đã ký kết cho đến khi thi hành án xong là có cơ sở để chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
[4] Về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo:
Về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí. Nguyên đơn không phải chịu án phí, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 158; Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- - Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q:
Buộc ông Mai Tuấn H, bà Trần Thị H2 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền tính đến ngày 27/08/2024 là đồng (Chín trăm tám mươi hai triệu, sáu trăm bốn mươi sáu nghìn, năm trăm hai mươi bốn đồng), bao gồm: Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 3954199.20 ngày 28/12/2020 là 897.765.068 đồng (T1 trăm chín mươi bảy nghìn, bảy trăm sáu mươi lăm nghìn, không trăm sáu mươi tám đồng) và dư nợ Thẻ tín dụng là: 84.881.456 đồng (T1 mươi bốn triệu, tám trăm tám mươi mốt nghìn, bốn trăm năm mươi sáu đồng), trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (là ngày 28/08/2024) cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, ông Mai Tuấn H, bà Trần Thị H3 phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 3954199.20 ngày 28/12/2020 và Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 26/12/2020.
Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm là: 41.479.396 đồng (Bốn mươi mốt triệu, bốn trăm bảy mươi chín nghìn, ba trăm chín mươi sáu đồng) ông Mai Tuấn H, bà Trần Thị H1 phải chịu. Ông H, bà H1 chưa nộp án phí. H4 lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 15.560.389 đồng (Mười lăm triệu, năm trăm sáu mươi nghìn, ba trăm tám mươi chín đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0023607 ngày 13/09/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
- Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Mai Tuấn H, bà Trần Thị H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt, niêm yết, thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Trung Thực |
Bản án số 3994/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 3994/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng- Mai Tuấn H
