|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 399/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/9/2024 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Văn Bình
- Bà Trần Thị Việt Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Duy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Vũ Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 209/2023/TLST – HNGĐ, ngày 10/6/2024 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A, ngõ B, đường N, phường N, quận L, thành phố Hà Nội. “Có mặt”
- Bị đơn: Anh Ngô Quang H1, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A, ngõ B, đường N, phường N, quận L, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, chị H trình bày: Chị và anh Ngô Quang H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, quận L, thành phố Hà Nội, ngày 26/5/2011. Năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân: Anh H1 không có công ăn việc làm, hay đi chơi, tụ tập uống rượu và lấy tiền của chị để đi chơi nếu không đáp ứng thì anh ta quay ra chửi mắng, sỉ nhục. Tháng 5/2024 thì vợ chồng sống ly thân không quan hệ gì. Chị nhận thấy cuộc hôn nhân này không phù hợp trong mọi phương diện giữa hai người từ tích cách, quan điểm, nhận thức và cách ứng xử, cả quan hệ tình cảm. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh H1.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Ngô Phương Bảo C, sinh ngày 14/02/2012 và cháu Ngô Phương Khánh H2, sinh ngày 28/4/2019. Sau ly hôn, chị có nguyện vọng muốn nuôi con gái là cháu Ngô Phương Khánh H2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Ngô Quang H1: Không có văn bản gửi Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh H1; về con chung: Giao cháu H2 cho chị H nuôi dưỡng và cháu C cho anh H1 nuôi dưỡng; về tài sản: Không phải giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1]. Về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết vụ án do bị đơn có nơi cư trú tại phường N, quận L, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên Tòa án nhân dân quận Long Biên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh H1 vắng mặt lần hai nên căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh.
- [2]. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn thương yêu, tôn trọng nhau. Từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay vợ chồng sống ly thân không quan hệ gì. Vì vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- [3]. Về con chung: Nguyên vọng của chị H là xin nuôi cháu H2, còn anh H1 nuôi cháu C. Chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy anh chị có 02 con chung nên mỗi người nuôi một cháu là phù hợp khả năng kinh tế của anh chị. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- [4]. Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- [5]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 40 và Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 51, 56, 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Ngô Quang H1.
-
Về con chung: Giao chị H nuôi dưỡng cháu Ngô Phương Khánh H2, sinh ngày 28/4/2019; giao anh H1 nuôi cháu Ngô Phương Bảo C, sinh ngày 14/02/2012.
Anh chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh chị có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng theo lai thu số 0018802 ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên (đã thi hành xong).
- Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hồng Quang |
Bản án số 399/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 399/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
