Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 399/2024/HS-ST

Ngày: 16 - 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 363/2024/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 463/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Thành P, sinh năm: 1987, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số H Đường số C, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Lê Thành P1 (©) và bà Mai Thị Ngọc H, sinh năm 1963; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ: Huỳnh Thị Ngọc H1, sinh năm 1991 và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/12/2006, bị Tòa án nhân dân Quận 2 (nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày 27/12/2006 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 102/2006/HSST. Bị cáo chấp hành xong thời hạn thử thách nhưng chưa đóng án phí. Theo Công văn số 1735/CV-CCTHADS ngày 08/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2 (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức) chưa thụ lý bản án và không tổ chức thi hành án đối với Bản án số 102/2006/HSST ngày 28/12/2006 của Tòa án nhân dân Quận 2 (nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức).

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa đặt tại điểm cầu thành phần.

· Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1975, xin vắng mặt.
  2. Anh Trần H2, sinh năm 1999, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: I P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 30/01/2024, Lê Thành P được đối tượng “Hậu” (nghi vấn tên Nguyễn Lý H3, bạn bè ngoài xã hội của P) đến nhà trọ của P rủ đi uống cà phê. H3 điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu đen BS 59V2-072.11 chở P về hướng đường T ra đường P. Đến trước nhà địa chỉ I P, phường L, thành phố T thì H3 dừng xe trên vỉa hè, H3 xuống xe tiến đến cổng nhà và dùng dụng cụ để bẻ khóa cổng rồi tiến vào nhà. P thấy H3 dùng dụng cụ để bẻ khóa và nghe thấy tiếng “cắc” thì biết H3 đi trộm cắp tài sản nhưng vẫn đồng ý vì nghĩ H3 sẽ chia tiền cho mình để tiêu xài sau khi H3 chiếm đoạt được tài sản. P điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu đen BS 59V2-072.11 quay đầu hướng ra đường Phạm Văn Đ và ngồi trên xe cảnh giới cho H3. Khoảng 05 phút sau, H3 rời khỏi địa chỉ trên, tay phải cầm theo 01 túi màu đen, leo lên xe Sirius mà P đang chờ sẵn rồi cùng nhau tẩu thoát. Sau đó, P chở H3 về nhà trọ của P tại địa chỉ 528/19/2 tỉnh lộ 43, Khu phố B, phường T, thành phố T. Sau đó, H3 kêu P đi mua nước tại tiệm tạp hóa gần nhà. Khi P quay về, thì H3 đã chuẩn bị sẵn 11.000.000 đồng tiền mặt gồm 20 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng đều là những tờ tiền mới; 01 máy tính bảng hiệu Ipad pro màu xám; 01 máy tính xách tay hiệu Sony Core i5 màu trắng bạc đưa cho P. Sau đó H3 điều khiển xe Sirius BS 59V2-072.11 rời đi.

Khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, ông Trần Văn K đi làm về nhà tại: I P, phường L, thành phố T thì phát hiện cổng hàng rào và cửa nhà mở nên vào nhà kiểm tra. Qua kiểm tra, anh K phát hiện các phòng ngủ trong nhà bị lục lọi, xáo trộn, kiểm tra tài sản trong nhà thì phát hiện bị mất một số tài sản nên anh Trần Văn K đến Công an phường L trình báo sự việc trên.

2

Tiến hành rà soát camera trên địa bàn thành phố T, CQĐT nghi vấn Lê Thành P nên tiến hành truy xét và phát hiện P đang cư trú tại địa chỉ: 5 Tỉnh lộ 43, Khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua hoạt động khám xét khẩn cấp, CQĐT thu giữ được 01 máy tính xách tay hiệu Sony VAIO Core I5; 01 máy tính bảng hiệu Ipad Pro 11 inch màu xám và 2.100.000 đồng là tài sản trong vụ án trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, P đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Đối với tài sản bị chiếm đoạt, P khai: P không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, tuy nhiên khi về đến nhà P tại địa chỉ 528/19/2, Tỉnh lộ 43, Khu phố B, phường T, thành phố T, P nhìn thấy trong túi màu đen mà H3 lấy trộm có nhiều xấp tiền mới gồm các mệnh giá 500.000 đồng; 200.000 đồng; 01 máy tính bảng hiệu Ipad pro màu xám; 01 máy tính xách tay hiệu Sony Core i5 màu trắng bạc. Lúc này, H3 yêu cầu P đi mua nước tại tiệm tạp hóa ngoài cổng, khoảng 05 phút sau P quay lại thì H3 đã chuẩn bị sẵn 11.000.000 đồng tiền mặt gồm 20 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng đều là những tờ tiền mới; 01 máy tính bảng hiệu Ipad pro màu xám; 01 máy tính xách tay hiệu Sony Core i5 màu trắng bạc đưa cho P. Sau đó, H3 điều khiển xe Sirius BS 59V2-072.11 rời đi. P đã tiêu xài cá nhân hết 8.900.000 đồng, còn lại số tiền mặt 2.100.000 đồng gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 máy tính bảng hiệu Ipad Pro màu xám, 01 máy tính xách tay hiệu Sony Core I5 màu trắng bạc, hiện Cơ quan Điều tra đã thu giữ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho P nhận dạng qua camera, P là người thanh niên mặc áo sọc dọc trắng đen, quần cụt ngắn, đội nón bảo hiểm màu trắng đứng cảnh giới cho H3 vào nhà số I P thực hiện hành vi trộm cắp sau đó điều khiển xe Sirius màu đen, biển số: 59V2-07211 chở H3 tẩu thoát khỏi hiện trường.

Bị hại ông Trần Văn K, anh Trần H2, bà Nguyễn Thị Q khai: Tài sản bị mất gồm có 01 đồng hồ đeo tay nữ hiệu Movado kính Sapphire màu vàng xuất xứ Thụy Sỹ; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S9 Plus SM-G965F/DS màu đen 64Gb RAM 6Gb, 60.000.000 đồng tiền mặt (là tài sản của bà Q); 01 máy tính xách tay Sony VAIO Core I5 màu trắng bạc Model SVP112A1CL RAM 4GB; 01 máy tính bảng hiệu Ipad Pro 11 inch màu xám SM MHQY3ZA/A số Serial W3PG9F43X1 dung lượng 1Tb (là tài sản của anh H2). Trong đó, số tiền 60.000.000 đồng tiền mặt toàn bộ đều là tiền mới bà Q nhờ một người bạn đổi dùm để lì xì ngày tết, bao gồm 01 tệp tiền nguyên mệnh giá 500.000 đồng gồm 100 tờ, 01 tệp tiền mệnh giá 200.000 đồng gồm 50 tờ (bà Q nhớ rõ do trước đó bà đã rút ra 50 tờ đổi lại cho một người đồng nghiệp ở trường). Ngoài ra còn một số tờ tiền mệnh giá nhỏ hơn là 50.000 đồng, 20.000 đồng, 10.000 đồng

3

nhưng bà không nhớ cụ thể số lượng tờ, đây là số tiền mới còn lại từ năm trước. Số tiền này được bà Q để trong túi sách trên ghế kế két sắt bên cửa phòng ngủ lầu 1.

Kết luận định giá số 176-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 ĐTDĐ S S9 Plus màu đen trị giá 2.000.000 đồng; 01 máy tính xách tay hiệu Sony VAIO Core I5 màu trắng bạc trị giá 2.000.000 đồng; 01 máy tính bảng Ipad Pro 11 inch màu xám trị giá 19.000.000 đồng, từ chối định giá đối với 01 đồng hồ đeo tay nữ hiệu Movado.

Vật chứng vụ án:

- Vật chứng đã thu giữ:

  • + 01 (một) nón lưỡi trai màu trắng xám có chữ “SPARTANS”; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng có chữ “NÓN SƠN”;
  • + 01 (một) áo thun màu trắng hiệu “GIN”; 01 (một) áo sơ mi tay dài, sọc ca rô màu trắng xanh;
  • + 01 (một) quần lửng jean màu trắng xanh (là trang phục P mặc khi thực hiện hành vi);
  • + 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, dài 83cm; 01 (một) tua vít cán nhựa, dài 33 cm (vật chứng thu giữ tại hiện trường);
  • + 01 (một) điện thoại hiệu OPPO A5 2020, Ram D, Imei 1: 60169041309990; Imei 2: 860169041309982; Số sê-ri: 408d495a (là điện thoại Lê Thành P sử dụng nhưng qua kiểm tra không có thông tin liên quan đến vụ án);
  • + 01 USB chứa dữ liệu điện tử.

- Vật chứng đã trả lại cho bị hại:

  • + 01 máy tính xách tay Sony VAIO Core I5 màu trắng bạc Model SVP112A1CL RAM 4GB; 01 máy tính bảng hiệu Ipad Pro 11 inch màu xám SM MHQY3ZA/A số Serial W3PG9F43X1 dung lượng 1Tb; 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng VNĐ và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 VNĐ (là tài sản chiếm đoạt, thu giữ tại chỗ của P khi khám xét);

- Vật chứng chưa thu giữ được: 01 đồng hồ đeo tay nữ hiệu Movado kính Sapphire màu vàng xuất xứ Thụy Sỹ; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S9 Plus SM-G965F/DS màu đen 64Gb RAM 6Gb;

Xác minh xe máy Sirius BS 59V2-072.11 Hậu sử dụng làm phương tiện phạm tội, chủ xe là Trần Thị T, địa chỉ 1 Đường A Phường H, G. Xác minh tại Công an phường H5 không có đương sự Trần Thị T tại địa chỉ trên, qua rà soát không phát hiện xe mô tô kể trên tại địa phương.

4

Về trách nhiệm dân sự: Anh H2 đã nhận lại máy tính bảng hiệu Ipad Pro, bà Q đã nhận lại 01 máy tính xách tay hiệu Sony VAIO và 2.100.000 đồng. Bà Q yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt trong vụ án này.

Xác minh về đối tượng “Hậu” nghi vấn tên Nguyễn Lý H3 có hình ảnh do P cung cấp trích xuất từ điện thoại của P: Xác minh tại địa chỉ hiện tại của H3 tại ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai kết quả H3 không cư trú tại địa chỉ trên; Xác minh tại Số B P, Khóm F, Phường G thành phố C kết quả H3 có địa chỉ thường trú tại địa chỉ trên nhưng không thực tế cư trú ở đây. Mẹ ruột của H3 là bà Nguyễn Thị Thu H4 cho biết H3 02 năm gần đây không về địa phương, không rõ đang làm gì ở đâu, không có số điện thoại liên lạc.

Tại Cáo trạng số: 362/CT-VKSTP.TĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Lê Thành P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức thay đổi quan điểm truy tố đối với bị cáo: Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên truy tố về tội danh, xác định lại số tiền bị cáo P chiếm đoạt trong vụ án này là 32.000.000 đồng nên thay đổi điều khoản truy tố so với bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành P từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/02/2024.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên và không tranh luận. Bị cáo đồng ý với kết luận định giá tài sản và đồng ý bồi thường số tiền 8.900.000 đồng cho bị hại là bà Nguyễn Thị Q.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

5

[1] Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan, hình ảnh camera, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 12 phút ngày 30/01/2024, đối tượng Nguyễn Lý H3 điều khiển xe mô tô Sirius màu đen, biển số 59V2-07211 chở Lê Thành P đến trước địa chỉ: Số I P, phường L, thành phố T. Tại đây, P ngồi trên xe đứng ngoài cảnh cảnh giới giúp sức cho H3 đột nhập vào căn nhà, lén lút chiếm đoạt tài sản. Sau đó, Lê Thành P bị bắt, còn Nguyễn Lý H3 chưa làm việc được.

Bị hại là bà Nguyễn Thị Q và anh Trần Hoàng kê k bị mất các tài sản gồm: 01 máy tính xách tay Sony VAIO Core I5; 01 máy tính bảng hiệu Ipad Pro 11; 01 đồng hồ đeo tay nữ hiệu Movado kính Sapphire màu vàng xuất xứ Thụy Sỹ; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S9 Plus SM-G965F/DS màu đen 64Gb RAM 6Gb và số tiền mặt 60.000.000 đồng. Tuy nhiên quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với H3, bị cáo P chỉ thừa nhận tài sản chiếm đoạt gồm 01 máy tính xách tay Sony VAIO Core I5 trị giá 2.000.000 đồng; 01 máy tính bảng hiệu Ipad Pro 11 trị giá 19.000.000 đồng và số tiền được H3 chia là 11.000.000 đồng. Ngoài lời khai của bà Q thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh các tài sản là điện thoại, đồng hồ và số tiền 60.000.000 đồng bị mất nêu trên là do P chiếm đoạt. Do đó, tổng giá trị tài sản xác định làm căn cứ xử lý trách nhiệm đối với bị cáo P trong vụ án này là 32.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 32.000.000 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.

6

Đối với đối tượng nghi vấn Nguyễn Lý H3 trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đến nay đã hết thời hạn điều tra nhưng chưa xác định được, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định tách vụ án hình sự ngày 27/6/2024 để tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 32.000.000 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự..

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu, không có nghề nghiệp, việc làm ổn định, đã 01 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 máy tính xách tay Sony VAIO Core I5 màu trắng bạc Model SVP112A1CL RAM 4GB; 01 máy tính bảng hiệu Ipad Pro 11 inch màu xám SM MHQY3ZA/A số Serial W3PG9F43X1 dung lượng 1Tb; 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng VNĐ và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 VNĐ là tài sản của các bị hại nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bị hại là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
  • - Đối với 01 (một) nón lưỡi trai màu trắng xám có chữ “SPARTANS”; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng có chữ “NÓN SƠN”; 01 (một) áo thun màu trắng hiệu “GIN”; 01 (một) áo sơ mi tay dài, sọc ca rô màu trắng xanh; 01 (một) quần lửng jean màu trắng xanh là trang phục P mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không yêu cầu nhận lại và cũng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, dài 83cm; 01 (một) tua vít cán nhựa, dài 33 cm là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

7

  • - Đối với 01 (một) điện thoại hiệu OPPO A5 2020, Ram D, Imei 1: 860169041309990; Imei 2: 860169041309982; Số sê-ri: 408d495a là điện thoại Lê Thành P sử dụng nhưng qua kiểm tra không có thông tin liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo P.
  • - Đối với 01 USB ghi hình ảnh chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị hại là anh Trần H2 đã đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Bị hại là bà Nguyễn Thị Q yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị cáo đã chiếm đoạt. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 8.900.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thành P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Lê Thành P: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/02/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015,

    - Buộc bị cáo bồi thường cho bà Nguyễn Thị Q số tiền 8.900.000 (tám triệu, chín trăm nghìn) đồng.

    Thi hành một lần, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

8

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nón lưỡi trai màu trắng xám có chữ “SPARTANS”; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng có chữ “NÓN SƠN”; 01 (một) áo thun màu trắng hiệu “GIN”; 01 (một) áo sơ mi tay dài, sọc ca rô màu trắng xanh; 01 (một) quần lửng jean màu trắng xanh; 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, dài 83cm; 01 (một) tua vít cán nhựa, dài 33 cm.
    • - Trả lại cho bị cáo P: 01 (một) điện thoại hiệu OPPO A5 2020, Ram D, Imei 1: 860169041309990; Imei 2: 860169041309982; Số sê-ri: 408d495a.
    • (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 263/QĐ-VKS ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK24/352C ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

    • - Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB ghi hình ảnh chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.
  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 445.000 (bốn trăm, bốn mươi lăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    • - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • - Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 399/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 399/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thành P trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger