Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ H

Bản án số: 399/2024/DS-PT

Ngày: 08/5/2024

V/v: "Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Kim Quy

Ông Lê Ngọc Tường

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Vào ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 225/2024/TLPT – DS ngày 26/02/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc, tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc, hợp đồng ủy quyền và văn bản điều chỉnh, bổ sung hợp đồng đặt cọc”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 689/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 551/2024/QĐPT-DS ngày 22/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5055/2024/QĐ-PT ngày 16/4/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Trung H, sinh năm: 1992. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

    Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Bà Cao Thị Mỹ D, sinh năm: 2000 (có mặt).

    Địa chỉ: Số A V, Phường B, quận B, Thành phố H.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Đỗ Đình N. Công ty L3-Đoàn Luật sư Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).

  2. Bị đơn:

    - Ông Trần Hồng L, sinh năm: 1967 (vắng mặt);

    - Bà Lê Thị Kim L1, sinh năm: 1969 (vắng mặt);

    Địa chỉ: Số A, đường số H, tổ A, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố H.

    Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc C, sinh năm: 1992.(có mặt)

    Địa chỉ: Thôn G, T, S, Q.

    Địa chỉ liên hệ: 79 Tỉnh Lộ 8, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố H.

    Đại diện theo Giấy ủy quyền lập ngày 03/4/2024, tại Văn phòng C1. Địa chỉ: D, Tỉnh lộ 8, ấp C, xã P, huyện C Thành phố H.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    3.1. Ông Trần Hồng Bảo L2, sinh năm: 1998 ( vắng mặt).

    Địa chỉ: Số A, đường số H, tổ A, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố H.

    3.2. Văn phòng C2, Thành phố H.

    Địa chỉ: Số A X, Phường B, quận B, Thành phố H.

    Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Bà Trương Lý T, sinh năm: 1994 (Xin vắng mặt).

    Địa chỉ: Xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.

    3.3. Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C.

    Địa chỉ: Đường P, Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố H.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đại H1. Chức vụ: Chấp hành viên (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm:

* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 20/9/2022, lời khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Trần Trung H-có người đại diện theo ủy quyền là bà Cao Thị Mỹ D trình bày:

Vợ chồng ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 là đồng chủ sở hữu các thửa đất sau:

  • Thửa đất số 705, tờ bản đồ số 53 với diện tích 1.077,9m² tọa lạc tại xã P, huyện C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CH00818 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 31/10/2011, đăng ký thay đổi ngày 25/12/2015;
  • Thửa đất số 620, tờ bản đồ số 52, 53 với diện tích 1.665,5m² tọa lạc tại xã P, huyện C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CH00174 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 16/6/2010, đăng ký thay đổi ngày 08/8/2014;
  • Thửa đất số 708, tờ bản đồ số 53 với diện tích 500m² tọa lạc tại xã P, huyện C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CS02045 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 13/10/2015, đăng ký thay đổi ngày 25/12/2015.

Sau khi tìm hiểu và thỏa thuận thì ông H đồng ý mua các thửa đất nêu trên của vợ chồng ông L, bà L1 với giá 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng).

Để đảm bảo cho việc chuyển nhượng nêu trên, ngày 30/9/2020 ông H và vợ chồng ông L, bà L1 tiến hành ký kết Hợp đồng đặt cọc số: 21004 vào quyền số: 09 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2, Thành phố H chứng thực. Khi ký Hợp đồng đặt cọc, ông H biết các tài sản nêu trên đang được thế chấp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1. Tại Điều 1 của Hợp đồng nêu rõ để đảm bảo giao dịch được diễn ra thuận lợi ông H sẽ tiến hành đặt cọc cho ông L, bà L1 số tiền là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), sau khi hoàn thành việc công chứng số tiền này sẽ được trừ vào tiền chuyển nhượng khi hai bên thực hiện thanh toán. Thời gian hai bên tiến hành ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng là 30 ngày kể từ ngày ký Hợp đồng đặt cọc nêu trên. Khi nhận xong tiền đặt cọc theo thỏa thuận và khi hết thời hạn 01 tháng thì vợ chồng ông L, bà L1 vẫn không tiến hành ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng sang cho ông H được vì lý do vẫn chưa đủ tiền để giải chấp tài sản tại Ngân hàng ra, ông L, bà L1 đề nghị ông H đặt cọc thêm để có tiền trả cho Ngân hàng để giải chấp các tài sản nêu trên ra nhằm tiến hành mua bán chuyển nhượng sang cho ông H.

Vì đã lỡ đặt cọc và tin tưởng vào vợ chồng ông L, bà L1 nên đến ngày 22/01/2021, ông H và vợ chồng ông L, bà L1 đã tiếp tục tiến hành ký kết văn bản điều chỉnh, bổ sung hợp đồng đặt cọc nêu trên. Văn bản điều chỉnh bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 1930, quyền số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2, Thành phố H chứng thực thể hiện ông H đã đặt cọc thêm cho vợ chồng ông L, bà L1 số tiền: 675.000.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng), nâng tổng số tiền ông H đã đặt cọc để mua 03 thửa đất nêu trên là 1.675.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng), những lần giao tiền này có lần ông H chuyển khoản và có lần ông H giao tiền mặt cho ông L và bà L1, số tiền này được ông L và bà L1 xác định tại văn bản điều chỉnh, bổ sung hợp đồng đặt cọc ngày 22/01/2021, đồng thời hai bên có thỏa thuận chậm nhất đến ngày 07/02/2021 sẽ tiến hành ký kết hợp đồng mua bán, chuyển nhượng các thửa đất nêu trên cho ông H theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên sau khi nhận thêm tiền cọc thì vợ chồng ông L, bà L1 không thực hiện nghĩa vụ của mình, cũng không trả tiền để giải chấp tài sản tại Ngân hàng ra và thể hiện không muốn chuyển nhượng các thửa đất nêu trên cho ông H như đã thỏa thuận, đến nay đã quá hạn hơn 01 năm nhưng phía vợ chồng ông L, bà L1 vẫn không có bất cứ động thái gì thể hiện thiện chí muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng, mặc dù ông H đã nhiều lần liên lạc, đốc thúc vợ chồng ông L, bà L1 tiến hành thực hiện Hợp đồng đặt cọc nêu trên nhưng vợ chồng ông L, bà L1 đều không có bất cứ một phản hồi nào. Ông H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C buộc ông L, bà L1 phải tiếp tục thực hiện chuyển nhượng các thửa đất nêu trên cho ông H hoặc nếu không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng thì phải trả lại cho ông H số tiền đặt cọc đã nhận là 1.675.000.000 đồng, đồng thời phải chịu tiền phạt cọc là 1.675.000.000 đồng theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H xác định ông H rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C buộc ông L, bà L1 phải tiếp tục thực hiện chuyển nhượng các thửa đất nêu trên cho ông H.Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông L, bà L1 trả lại số tiền đã nhận cọc là 1.675.000.000đ, phạt cọc 1.675.000.000 đồng, tổng cộng là 3.350.000.000 đồng, trường hợp ông L, bà L1 trả số tiền này trong vòng 07 ngày kể từ ngày xét xử thì ông H chỉ yêu cầu ông L, bà L1 trả số tiền phạt cọc là 825.000.000đ, ông Hồ g bớt cho ông L, bà L1 số tiền phạt cọc 850.000.000đ. Ngoài ra người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý với một phần yêu cầu phản tố của bị đơn là hủy Hợp đồng ủy quyền số công chứng 21005, quyền số 09 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/9/2020, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H.

* Theo Đơn phản tố ngày 24/11/2022, bản tự khai ngày 03/8/2023, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn là bà Lê Thị Kim L1 trình bày: Ngày 30/9/2020, vợ chồng bà có ký kết Hợp đồng đặt cọc công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 21004, quyền số 09 TP/CC-SCC/HĐGD đối với các thửa đất số 705, tờ bản đồ số 53, diện tích 1.077,9m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào số cấp GCN CH00818 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 31/10/2011, đăng ký thay đổi ngày 25/12/2015; thửa đất số 620, tờ bản đồ số 52, 53 với diện tích 1.665,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào số cấp GCN CH00174 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 16/6/2010, đăng ký thay đổi ngày 08/8/2014; thửa đất số 708, tờ bản đồ số 53 với diện tích 500m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào số cấp GCN CS02045 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 13/10/2015, đăng ký thay đổi ngày 25/12/2015. Giá trị chuyển nhượng các thửa đất nêu trên là 5.000.0000.000₫ ông H chỉ mới đặt cọc cho vợ chồng bà số tiền 670.000.000đ vào ngày 30/9/2020 và số tiền 582.820.000đ vào ngày 26/01/2021 (04 ngày sau ngày ký văn bản điều chỉnh, bổ sung hợp đồng đặt cọc ngày 22/01/2021 tại Văn phòng C2) thông qua hình thức chuyển khoản, tổng cộng số tiền ông H đã đặt cọc cho vợ chồng bà chỉ có 1.252.820.000đ, không phải 1.675.000.000₫ như ông H trình bày, số tiền này vợ chồng bà sử dụng để xoay vòng vốn kinh doanh, không phải sử dụng để giải chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1, trong những lần làm việc và hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà trình bày chưa chính xác về số tiền vợ chồng bà đã nhận từ ông H nên hôm nay vợ chồng bà đính chính lại. Cũng trong ngày 30/9/2020, vợ chồng bà ký Hợp đồng ủy quyền cho ông H được quyền thay mặt vợ chồng bà liên hệ với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 và các cơ quan có thẩm quyền để trả các khoản nợ để được giải trừ thế chấp, giải tỏa ngăn chặn và nhận toàn bộ hồ sơ bản chính liên quan đến nhà, đất nêu trên, làm thủ tục đăng ký xóa thế chấp. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020 thì trong thời hạn 30 (Ba mươi) ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng thì ông H phải tiến hành thủ tục để vợ chồng bà ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như đã thỏa thuận, tuy nhiên khi hết thời hạn 30 (Ba mươi) ngày, ông H vẫn chưa thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 để nhận lại hồ sơ bản chính liên quan đến nhà đất mà vợ chồng bà đã nhận đặt cọc, đồng thời không có văn bản nào yêu cầu hoãn thời hạn cũng như động thái nào yêu cầu vợ chồng bà thực hiện ký kết hợp đồng (trễ 02 tháng 22 ngày). Đến ngày 22/01/2021, ông H và vợ chồng bà mới ký kết văn bản điều chỉnh, bổ sung hợp đồng đặt cọc, nâng số tiền đặt cọc lên 1.675.000.000đ, theo đó chậm nhất đến ngày 07/02/2021 thì các bên tiến hành thủ tục chuyển nhượng. Đến ngày 07/02/2021, ông H vẫn chưa thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 để nhận lại hồ sơ bản chính liên quan đến nhà đất mà vợ chồng bà đã nhận đặt cọc, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện C yêu cầu vợ chồng bà phải thanh toán các khoản nợ cho phía Ngân hàng, đến ngày 07/7/2022 Tòa án nhân dân huyện C ban hành Quyết định công nhân sự thỏa thuận của các đương sự số 301/2022/QĐST-DS với nội dung vợ chồng bà phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 tiền gốc và lãi vay trong hạn, lãi quá hạn. Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đã ban hành Quyết định về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 05/QĐ-CC-CCTHADS ngày 26/10/2022 đối với các thửa đất số 705, 620 và 708 của vợ chồng bà.

Đối với yêu cầu khởi kiện đòi lại tiền cọc và phạt cọc của ông H, vợ chồng bà không đồng ý vì bên vi phạm là ông H, do đó ông H bị mất cọc, đồng thời vợ chồng bà có các yêu cầu phản tố như sau:

  • Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C buộc ông H phải trả lại cho vợ chồng bà số tiền 5.675.000.000đ, đây là số tiền cấn trừ qua lại trong mối quan hệ làm ăn giữa vợ chồng bà và ông H;
  • Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020, hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 30/9/2020 và hủy Văn bản điều chỉnh, bổ sung hợp đồng đặt cọc ngày 22/01/2021, công chứng tại Văn phòng C2 vì khi đi ký hợp đồng đặt cọc, tài sản vợ chồng bà đang thế chấp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1, ông H biết rõ tài sản vợ chồng bà đang thế chấp nhưng ông H có người anh ruột tên Trần Trung G làm việc ở Ngân hàng, ông G nói có thể ký Hợp đồng đặt cọc được nên ông H và vợ chồng bà mới ký.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, vợ chồng bà xác định rút lại yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C buộc ông H phải trả lại cho vợ chồng bà số tiền 5.675.000.000₫ vì liên quan đến số tiền này, vợ chồng bà đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông H tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đang thụ lý đơn tố cáo.

* Bị đơn ông Trần Hồng L xin vắng mặt.

* Tại bản tự khai ngày 19/7/2023, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Hồng Bảo L2 trình bày:

Ông là con của bà L1 và ông L, ông có biết cha mẹ ông có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Trung H, ông H có đặt cọc số tiền 1.252.820.000đ khi đặt cọc mua đất ông H biết quyền sử dụng đất của cha mẹ ông đang thế chấp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1, cha mẹ ông đã làm Hợp đồng ủy quyền cho ông H thay mặt cha mẹ thanh toán tiền vay cho Ngân hàng để xóa thế chấp nhưng ông H vẫn không thực hiện nên không thể tiến hành ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đới với các thửa đất nêu trên theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020 và Văn bản điều chỉnh, bổ sung hợp đồng đặt cọc lập ngày 22/01/2021.

* Tại bản tự khai ngày 16/8/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C2, Thành phố H-có người đại diện theo ủy quyền là bà Trương Lý T trình bày:

Qua kiểm tra hồ sơ lưu công chứng Hợp đồng đặt cọc số 21004 ngày 30/9/2020, Văn bản điều chỉnh, bổ sung hợp đồng đặt cọc số 1930 ngày 22/01/2021, Hợp đồng ủy quyền số 21005 ngày 30/9/2020 do Văn phòng công chứng Bình Thạnh Thành phố C2 chứng thực, có nội dung như sau: Ngày 30/9/2020, theo đề nghị của ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 yêu cầu Văn phòng C2 chứng nhận Hợp đồng ủy quyền và Hợp đồng đặt cọc liên quan đến quyền sử dụng đất các thửa đấtsố 705, tờ bản đồ số 53; địa chỉ: Xã P, huyện C, TP.; thửa đất số 620, tờ bản đồ số 52, 53; địa chỉ: Xã P, huyện C, TP. và thừa đất số 708, tờ bản đồ số 53; địa chỉ: Xã P, huyện C, TP. cho ông Trần Trung H. Sau khi yêu cầu các bên cung cấp hồ sơ, giấy tờ pháp lý liên quan đầy đủ theo quy định tại Điều 40, Điều 41 của Luật công chứng năm 2014, Công chứng viên tiến hành thụ lý và soạn thảo các hợp đồng nêu trên với nội dung mà các bên đương sự đã thỏa thuận. Nội dung yêu cầu của các bên không trái với pháp luật, không bị pháp luật nghiêm cấm, không trái luật và đạo đức xã hội. Hai bên đương sự thống nhất, đồng ý và tự nguyện ký kết với những điều khoản thể hiện trong hợp đồng ủy quyền này. Tại thời điểm công chứng, Công chứng viên đã giải thích cho các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp, ý nghia và hậu quả pháp lý của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng. Các bên yêu cầu công chứng có năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định pháp luật, các bên yêu cầu công chứng đã tự đọc lại, hiểu rõ Hợp đồng và tự nguyện ký kết.

* Tại bản tự khai ngày 02/11/2023, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thi hành án dân sự huyện C-có người đại diện theo ủy quyền là ông Vũ Đại H1 trình bày:

Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C đã ban hành Quyết định số 05/QĐ-CCTHADS ngày 26/10/2023 về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với các thửa đất số 705, 620, 708 của ông L, bà L1, các thửa đất này trước đó ông L và bà L1 thế chấp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1, việc cưỡng chế kê biên thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự để thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 301/2022/QĐST-DS ngày 07/07/2022 và Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 541/2022/QĐST-DS ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện C.

Trong vụ án này nguyên đơn và bị đơn đều trình bày không tranh chấp gì liên quan đến các thửa đất số 705, 620, 708 mà chỉ yêu cầu giải quyết tính pháp lý của Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020, trả cọc và phạt cọc nên Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đề nghị Tòa án nhân dân huyện C giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

*Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác được Tòa án xác định tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có đơn xin vắng mặt.

Do các đương sự không hòa giải được với nhau nên vụ án được đưa ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 689/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của

Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố H đã tuyên:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Trung H về việc yêu cầu ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 trả lại số tiền đã nhận đặt cọc là 1.675.000.000₫ (Một tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
  2. Buộc ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 phải trả cho ông Trần Trung H số tiền 1.675.000.000đ (Một tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

    Thi hành ngay sau khi Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày ông H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông L, bà L1 chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Trung H về việc yêu cầu ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 trả số tiền phạt cọc là 1.675.000.000đ (Một tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
  4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 về việc yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 21004, quyền số 09 TP/CC-SCC/HĐGD và Văn bản điều chỉnh, bổ sung Hợp đồng đặt cọc ngày 22/01/2021, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 1930, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD.
  5. Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 21004, quyền số 09 TP/CC-SCC/HĐGD và Văn bản điều chỉnh, bổ sung Hợp đồng đặt cọc ngày 22/01/2021, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 1930, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu.

  6. Công nhận sự thỏa thuận của ông Trần Trung H, ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 về việc hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 30/9/2020, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 21005, quyền số 09 TP/CC-SCC/HĐGD.
  7. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trung H về việc yêu cầu ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 tiếp tục thực hiện chuyển nhượng các thửa đất 705, 620 và 708.
  8. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 về việc yêu cầu ông Trần Trung H phải trả lại số tiền 5.675.000.000₫ (Năm tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
  9. Án phí dân sự sơ thẩm:
  10. - Ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 phải chịu án phí là 62.250.000₫ (Sáu mươi hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) đối với số tiền cọc phải trả lại cho ông Trần Trung H và án phí 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng) đối với yêu cầu phản tố đã thỏa thuận được với nguyên đơn, tổng cộng số tiền án phí ông L và bà L1 phải chịu là 62.400.000₫ (Sáu mươi hai triệu bốn trăm ngàn đồng), được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 56.837.500đ (Năm mươi sáu triệu tám trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng) ông L và bà L1 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0017030 ngày 27/3/2023, số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) ông L và bà L1 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0017945 và số tiền tạm ứng án phí 600.000₫ (Sáu trăm ngàn đồng) ông L và bà L1 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0017951 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C, ông L và bà L1 còn phải nộp thêm số tiền 4.662.500₫ (Bốn triệu sáu trăm sáu mươi hai triệu năm trăm đồng);

    - Ông Trần Trung H phải chịu án phí là 62.250.000₫ (Sáu mươi hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) đối với số tiền yêu cầu phạt cọc không được chấp nhận; án phí 600.000₫ (Sáu trăm ngàn đồng) đối với yêu cầu phản tố của ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 được chấp nhận và án phí 150.000₫ (Một trăm năm mươi ngàn đồng) đối với yêu cầu phản tố đã thỏa thuận được với bị đơn, tổng cộng số tiền án phí ông H phải chịu là 63.000.000₫ (Sáu mươi ba triệu đồng), được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 49.500.000₫ (Bốn mươi chín triệu năm trăm ngàn đồng) ông H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0019987 ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C. Ông H còn phải nộp thêm số tiền 13.500.000₫ (Mười ba triệu năm trăm ngàn đồng).

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Sau khi Bản án đã tuyên, ngày 28/11/2023 nguyên đơn ông Trần Trung H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.

Ngày 30/11/2023 bị đơn ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Các đương sự không rút yêu cầu khởi kiện, không rút kháng cáo, cũng không thỏa thuận được với nhau, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết kháng cáo theo quy định pháp luật.
  • Theo đơn kháng cáo, nguyên đơn yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng tuyên buộc bị đơn còn phải trả số tiền phạt cọc là 1.675.000.000₫ (Một tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng) theo hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020.
  • Theo đơn kháng cáo, bị đơn yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng: Bị đơn chỉ thừa nhận số tiền đặt cọc của nguyên đơn là 1.252.820.000 đồng, không đồng ý trả lại cho nguyên đơn số tiền đặt cọc 1.252.820.000 đồng. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, các nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Qua xem xét toàn bộ chứng cứ, xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xét thấy không có cơ sở sửa bản án nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ y bản án sơ thẩm số 689/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố H đã tuyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • Đơn kháng cáo của đương sự đúng thời hạn theo quy định tại Điều 273 và các thủ tục kháng cáo thực hiện đúng quy định Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên kháng cáo được chấp thuận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  • Đương sự vắng mặt đã được tống đạt hợp lệ, nên xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung kháng cáo:

Sau khi xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án, yêu cầu kháng cáo và lời trình bày, đối chất của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến của Viện kiểm sát, xét thấy:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu bị đơn phải trả số tiền phạt cọc là 1.675.000.000đ (Một tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng). Lý do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020. Tổng cộng cả tiền cọc và tiền phạt cọc là 3.350.000.000 đồng.

- Bị đơn kháng cáo xác định, bị đơn chỉ nhận số tiền đặt cọc của nguyên đơn là 1.252.820.000 đồng, không đồng ý trả lại cho nguyên đơn số tiền đặt cọc 1.252.820.000 đồng. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

Theo bị đơn, cả hai bên thực hiện hợp đồng đặt cọc nhằm để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi tiến hành lập hợp đồng đặt cọc cả hai bên đều biết tình trạng pháp lý của tài sản chuyển nhượng đang bị thế chấp tại ngân hàng. Phía nguyên đơn biết rất rõ tình trạng của thửa đất mà vẫn đồng ý tiếp tục thực hiện. Như vậy, bị đơn không có lỗi.

- Các đương sự xác định các phần khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đề nghị giữ y và có hiệu lực pháp luật.

[2.2] Nhận thấy, quá trình giao dịch về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, để đảm bảo thực hiện hợp đồng, giữa nguyên đơn và bị đơn đã ký kết các hợp đồng gồm: Hợp đồng đặt cọc số 21004, vào quyền số 09 TP/CC-SCC/HĐGD có chứng thực ngày 30/9/2020 tại Văn phòng C2, Thành phố H; Văn bản điều chỉnh, bổ sung hợp đồng đặt cọc số 1930, quyền số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C2, Thành phố H chứng thực ngày 22/01/2021 và Hợp đồng ủy quyền số 21005 ngày 30/9/2020 được Văn phòng công chứng Bình Thạnh Thành phố H2 chứng thực.

Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020 và Văn bản điều chỉnh, bổ sung hợp đồng đặt cọc ngày 22/01/2021, công chứng tại Văn phòng C2 thì đối tượng chuyển nhượng là quyền sử dụng đất thuộc đối với các thửa đất số 705, tờ bản đồ số 53, diện tích 1.077,9m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CH00818 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 31/10/2011, đăng ký thay đổi ngày 25/12/2015; thửa đất số 620, tờ bản đồ số 52, 53 với diện tích 1.665,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào số cấp GCN CH00174 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 16/6/2010, đăng ký thay đổi ngày 08/8/2014; thửa đất số 708, tờ bản đồ số 53 với diện tích 500m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào số cấp GCN CS02045 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 13/10/2015, đăng ký thay đổi ngày 25/12/2015. Giá chuyển nhượng là 5.000.000.000₫, ông H đã đặt cọc cho ông L, bà L1 1.675.000.000₫ để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng theo Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015; thời hạn tiến hành mua bán, chuyển nhượng chậm nhất đến ngày 07/02/2021 nếu ông L, bà L1 không thực hiện việc chuyển nhượng hoặc giao giấy đất cho ông H để lập hợp đồng thì ông L và bà L1 phải trả lại số tiền đã đặt cọc và bồi thường cho ông H bằng số tiền đã đặt cọc, ngược lại nếu ông H không mua đất thì sẽ mất toàn bộ số tiền cọc.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông H, và bị đơn ông L, bà L1 đều xác định tại thời điểm ký Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020, các bên đều biết rõ các thửa đất số 705, 620, 708 là đối tượng giao dịch đang bị thế chấp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 nhưng không thông báo cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 được biết. Các bên giao kết hợp đồng nhưng chưa được sự đồng ý của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 là không đúng quy định pháp luật.

- Căn cứ vào diễn biến của toàn bộ quá trình giao dịch đã được hai bên thừa nhận, chính vì tài sản đang bị thế chấp tại Ngân hàng, nên cả hai mới không thể tiến hành thực hiện chuyển nhượng được theo hợp đồng đặt cọc đã ký 30/9/2020, vì vậy mà các bên tiếp tục ký Văn bản điều chỉnh, bổ sung hợp đồng đặt cọc ngày 22/01/2021, và Văn bản điều chỉnh này cũng không thực hiện được. Cả hai đều đổ lỗi cho nhau khi không thực hiện được toàn bộ các hợp đồng đã ký nêu trên.

Căn cứ vào sự thỏa thuận tại Điều 1 của Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020 thể hiện: “Đối tượng của hợp đồng: Sau khi bên A (ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1) hoàn tất nghĩa vụ trả nợ và đăng ký xóa thế chấp..." nhưng tại Điều 1 của Hợp đồng ủy quyền ngày 30/9/2020 lại thể hiện: “Bên B (ông Trần Trung H) được quyền thay mặt và nhân danh bên A (ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1) liên hệ với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1) và các cơ quan có thẩm quyền để trả các khoản nợ để được giải trừ thế chấp...", như vậy giữa Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020 và Hợp đồng ủy quyền ngày 30/9/2020 có sự mâu thuẫn về nghĩa vụ trả nợ và xóa đăng ký thế chấp giữa ông H, ông L, bà L1. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên không lý giải được về nghĩa vụ trả khoản nợ của ngân hàng, xóa đăng ký thế chấp. Người đại diện nguyên đơn cũng thừa nhận phần lỗi của nguyên đơn khi ký kết hợp đồng không rõ ràng, nên không xác định được lỗi thuộc về ai khi không thực hiện được các hợp đồng đã ký. Hơn nữa, việc thực hiện nghĩa vụ còn tùy thuộc vào ý chí của bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1.

Phía nguyên đơn kháng cáo cho rằng, việc ký hợp đồng đặt cọc nhằm để bị đơn trả nợ ngân hàng và giải chấp tài sản thế chấp để hai bên tiến hành chuyển nhượng. Nhưng phía bị đơn phủ nhận và cũng không có điều khoản nào trong các văn bản ký kết có sự thỏa thuận như thế, nên lời trình bày này không được chấp nhận.

Do cả nguyên đơn và bị đơn không lý giải được về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong các văn bản ký, mà sự thỏa thuận có sự mâu thuẫn với nhau, nên khi hợp đồng không thực hiện được, các bên không chứng minh được lỗi vi phạm là của phía bên kia. Nên cấp sơ thẩm nhận định đây là lỗi hỗn hợp của các bên là đúng và tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 21004, quyền số 09 TP/CC-SCC/HĐGD và Văn bản điều chỉnh, bổ sung Hợp đồng đặt cọc ngày 22/01/2021, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 1930, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu là có căn cứ.

- Tại phiên tòa, các bên đều đồng ý chấm dứt không đồng ý tiếp tục thực hiện các hợp đồng văn bản đã ký, chỉ đề nghị xác định lỗi của mỗi bên làm cơ sở bồi thường khi không thực hiện được.

Do đây là lỗi hỗn hợp của cả nguyên đơn và bị đơn như đã nhận định trên, các bên cũng đồng ý không tiếp tục thực hiện hợp đồng, nên khi giải quyết chỉ xét yếu tố lỗi khi không thực hiện được như cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ. Do đây là lỗi của hai bên vì vậy yêu cầu tiền phạt cọc của nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận. Nguyên đơn kháng cáo cũng không có cung cấp thêm chứng cứ gì chứng minh nên bác yêu cầu kháng cáo này của nguyên đơn.

Đối với kháng cáo của bị đơn, người đại diện của bị đơn xác định bên bị đơn chỉ nhận số tiền 1.252.820.000 đồng, và không đồng ý trả lại cho nguyên đơn vì đây là lỗi của nguyên đơn. Nhưng xét thấy, như nhận định đã nêu trên đây là lỗi từ cả hai bên, hợp đồng không thực hiện được và vô hiệu, nên việc trả lại số tiền đã nhận của nguyên đơn là đúng quy định pháp luật. Đối với số tiền đặt cọc 1.675.000.000đ (Một tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng) đã được cả hai bên thừa nhận toàn bộ tại Tòa án cấp sơ thẩm, mặt khác tại hợp đồng đặt cọc thì phía bị đơn thừa nhận đã nhận đủ số tiền cọc. Nay tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn chỉ thừa nhận 1.252.820.000 đồng mà không có chứng cứ chứng minh, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

[3] Từ lẽ đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đồng quan điểm với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  • - Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Trung H và bị đơn ông Trần Hồng L, bà Lê Thị Kim L1.
  • - Giữ nguyên bản án sơ thẩm sơ thẩm số 689/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố H.
  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trung H về việc yêu cầu ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 trả lại số tiền đã nhận đặt cọc là 1.675.000.000đ (Một tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
  2. Buộc ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 phải trả cho ông Trần Trung H số tiền 1.675.000.000đ (Một tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

    Thi hành ngay sau khi Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày ông H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông L, bà L1 chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Trung H về việc yêu cầu ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 trả số tiền phạt cọc là 1.675.000.000₫ (Một tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
  4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 về việc yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 21004, quyền số 09 TP/CC-SCC/HĐGD và Văn bản điều chỉnh, bổ sung Hợp đồng đặt cọc ngày 22/01/2021, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 1930, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD.
  5. Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2020, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 21004, quyền số 09 TP/CC-SCC/HĐGD và Văn bản điều chỉnh, bổ sung Hợp đồng đặt cọc ngày 22/01/2021, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 1930, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu.

  6. Công nhận sự thỏa thuận của ông Trần Trung H, ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 về việc hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 30/9/2020, công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố H, số công chứng 21005, quyền số 09 TP/CC-SCC/HĐGD.
  7. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trung H về việc yêu cầu ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 tiếp tục thực hiện chuyển nhượng các thửa đất 705, 620 và 708.
  8. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 về việc yêu cầu ông Trần Trung H phải trả lại số tiền 5.675.000.000₫ (Năm tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
  9. Án phí dân sự sơ thẩm:
  10. - Ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 phải chịu án phí là 62.250.000₫ (Sáu mươi hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) đối với số tiền cọc phải trả lại cho ông Trần Trung H và án phí 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng) đối với yêu cầu phản tố đã thỏa thuận được với nguyên đơn, tổng cộng số tiền án phí ông L và bà L1 phải chịu là 62.400.000₫ (Sáu mươi hai triệu bốn trăm ngàn đồng), được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 56.837.500đ (Năm mươi sáu triệu tám trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng) ông L và bà L1 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0017030 ngày 27/3/2023, số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) ông L và bà L1 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0017945 và số tiền tạm ứng án phí 600.000₫ (Sáu trăm ngàn đồng) ông L và bà L1 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0017951 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C, ông L và bà L1 còn phải nộp thêm số tiền 4.662.500₫ (Bốn triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng);

    - Ông Trần Trung H phải chịu án phí là 62.250.000₫ (Sáu mươi hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) đối với số tiền yêu cầu phạt cọc không được chấp nhận; án phí 600.000₫ (Sáu trăm ngàn đồng) đối với yêu cầu phản tố của ông Trần Hồng L và bà Lê Thị Kim L1 được chấp nhận và án phí 150.000₫ (Một trăm năm mươi ngàn đồng) đối với yêu cầu phản tố đã thỏa thuận được với bị đơn, tổng cộng số tiền án phí ông H phải chịu là 63.000.000₫ (Sáu mươi ba triệu đồng), được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 49.500.000₫ (Bốn mươi chín triệu năm trăm ngàn đồng) ông H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0019987 ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C. Ông H còn phải nộp thêm số tiền 13.500.000₫ (Mười ba triệu năm trăm ngàn đồng).

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

  11. Án phí dân sự phúc thẩm:
  12. - Bị đơn ông Trần Hồng L, bà Lê Thị Kim L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0018738 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

    - Nguyên đơn ông Trần Trung H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0018719 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, Thành phố H.

  13. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  14. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- TAND TC;

- TAND Cấp cao tại TP.H;

- VKSND Cấp cao tại TP.H;

- VKSND TP.H;

- Chi Cục THADS huyện C;

- Tòa án Nhân dân huyện C;

- Đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 399/2024/DS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 399/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, Giữ nguyên bản án sơ thẩm sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger