|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 399/2024/DS-PT Ngày 07-8-2024 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền. |
| Các Thẩm phán: | Ông Lê Sỹ Trứ; |
| Bà Ngô Thị Bích Diệp. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 31 tháng 7 năm 2024, ngày 7 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 42/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2023/DS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 115/2024/QĐ-PT, ngày 13 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 177/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 3 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 41/2024/QĐ-PT ngày 06/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 349/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L: Bà Lê Thị L1, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 01/11/2021); có mặt.
- Bị đơn: Nguyễn Văn X, sinh năm 1962; địa chỉ: số nhà G, tổ A, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn X: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; địa chỉ: số nhà G, tổ A, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/10/2021); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967; địa chỉ: số D, tổ A, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn T1: Bà Thạch Dương Song T2, sinh năm 2000; địa chỉ: ấp T, xã Viên B, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ liên hệ: số B Quốc lộ A, khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 09/8/2023); có mặt.
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1964; địa chỉ: tổ A, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 1970; địa chỉ: số D, tổ A, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Ông Nguyễn Hữu S, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ A, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hữu S1, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ A, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; địa chỉ: tổ A, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị T: Ông Lê Văn C, sinh năm 1989; địa chỉ: số B khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 09/8/2023); có mặt.
- Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1968; có mặt.
- Bà Phạm Thị Mộng T5, sinh năm 1966 (vợ ông Đ); vắng mặt.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Ông Đậu Văn L2, sinh năm 1972; có đơn xin vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim T6, sinh năm 1985 (vợ ông L2); có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Ông Nguyễn Tấn C1, sinh năm 1970; địa chỉ: số B, đường N, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Ông Đậu Văn L3, sinh năm 1970; có đơn xin vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thúy L4, sinh năm 1977 (vợ ông L3); có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: tổ A, ấp T, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Bà Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1989; có đơn xin vắng mặt.
- Ông Phạm Văn T7, sinh năm 1986 (chồng của bà Ý); có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: số C, tổ A, ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Ông Đặng Quốc G, sinh năm 1977; có đơn xin vắng mặt.
- Bà Thái Thị Thanh X1, sinh năm 1978 (vợ ông G); có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: tổ B, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Văn phòng C3, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: đường Đ, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu T8 - Trưởng Văn phòng; có đơn xin vắng mặt.
- Văn phòng C4, địa chỉ: đường N, khu đô thị V, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Ngọc S2 - Trưởng Văn phòng; có đơn xin vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, bị đơn ông Nguyễn Văn X, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2021 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Cha mẹ ruột của bà Nguyễn Thị L là ông Nguyễn Văn T9 (sinh năm: 1931, chết năm 2004, có đăng ký khai tử tại UBND phường M theo theo giấy khai tử số: 05 ngày 04/11/2004) và bà Nguyễn Thị P (sinh năm 1939, chết năm 1985, không làm giấy chứng tử). Ông T9 và bà P có 05 người con gồm: bà L; ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị T3, ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu T4.
Khoảng năm 1959, ông Nguyễn Văn T9 và bà Nguyễn Thị P có khai phá được phần đất có diện tích là: 16.342m², đất tọa lạc tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương nhưng chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình bà L cùng sinh sống, quản lý, sử dụng ổn định cho đến nay. Sau khi ông T9 và bà P chết, để lại phần đất của gia đình khai phá có diện tích là: 16.342m², đất tọa lạc tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Ông T9 và bà P qua đời, không để lại di chúc, các anh chị em chưa làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với tài sản nêu trên. Đến khi bà L yêu cầu phân chia di sản thừa kế đối với phần đất có diện tích 16.342m² mà cha mẹ để lại thì mới phát hiện ông X tự ý làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên, cụ thể: Vào ngày 01/12/2004, hộ ông X được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thị xã B) cấp giấy chứng nhận QSDĐ số: U418563, vào sổ cấp GCN: 017330 QSDĐ/124/7/QĐ-UB, thửa đất số 08, 697, 698, 694, tờ bản đồ số 07, diện tích đất là: 16.342m². Việc làm sổ đất này, bà L không hề hay biết, ông X đã tự ý kê khai di sản thừa kế của cha mẹ. Sau đó thành viên hộ ông X gồm: Ông Nguyễn Văn X cùng với các con là ông Nguyễn Minh S3, Nguyễn Hữu S ký hợp đồng ủy quyền số: 75, quyển số: 01TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C3, tỉnh Bình Dương cho vợ ông X là bà Nguyễn Thị T. Sau đó, ngày 19/06/2012, bà Nguyễn Thị T chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Trần Văn Đ và ông Đậu Văn L2 theo Hợp đồng chuyển nhượng số: 00003470, quyển số: 04 TP/CC-SCC/H9ĐGD tại Văn phòng C4, địa chỉ: đường N, khu đô thị V, Quốc lộ A, huyện B (thị xã B), tỉnh Bình Dương. Sau đó, ông Trần Văn Đ được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BK 699975, số vào sổ: CH05043 ngày 01/8/2012 đối với thửa đất số 1569, tờ bản đồ 07 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BK 699977, số vào sổ: CH05044 ngày 01/8/2012 đối với thửa đất số 1472, tờ bản đồ số 07. Đồng thời, ông Đậu Văn L2 cũng được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BK 69976, số vào sổ: CH05043 ngày 01/8/2012 đối với thửa đất số 1569, tờ bản đồ 07 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BK 699978, số vào sổ: CH05044 ngày 01/8/2012 đối với thửa đất số 1472, tờ bản đồ số 07. Sau đó, ông Đậu Văn L2 và ông Trần Văn Đ chuyển nhượng thửa đất số 1472, tờ bản đồ số 07 cho ông Nguyễn Tấn C1 và ông C1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 04/10/2019. Đồng thời, ông Đậu Văn L2 và ông Trần Văn Đ chuyển nhượng thửa đất số 1569, tờ bản đồ 07 cho ông Đậu Văn L3. Ông L3 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 28/10/2019. Sau đó, ông L3 chuyển nhượng thửa đất này cho bà Nguyễn Thị Như Ý và bà Ý đã được cập nhật chỉnh lý sang tên ngày 05/10/2021; sau đó bà Ý chuyển nhượng lại cho ông Đặng Quốc G, ông G cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất qua đo đạc thực tế theo Mãnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 34-2022 đề ngày 08/7/2022 và số 35-2022 đề ngày 08/7/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã B với diện tích đất tổng cộng là: 15.654,6m², thuộc thửa đất số 1569 và thửa 1472, tờ bản đồ số 07 nêu trên cho bà L, ông X, bà T3, ông T và bà T4. Bà L yêu cầu được nhận di sản thừa kế bằng hiện vật.
- Hủy Hợp đồng ủy quyền số: 75, quyển số: 01TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C3, tỉnh Bình Dương từ ông Nguyễn Văn X, ông Nguyễn Minh S3, Nguyễn Hữu S cho bà Nguyễn Thị T.
- Hủy tất cả các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến thửa số 1472, tờ bản đồ số 07 và thửa số 1569, tờ bản đồ 07 tọa lạc tại khu phố E, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
- Kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CS 880407, vào sổ cấp GCN: CS19210 ngày 04/10/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Tấn C1 đối với thửa đất số 1472, tờ bản đồ số 07 tọa lạc tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
- Kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DC 681251, vào sổ cấp GCN: CS22638 ngày 11/6/2021 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Đặng Quốc G đối với thửa đất số 1569, tờ bản đồ 07 tọa lạc tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
2. Bị đơn ông Nguyễn Văn X và người đại diện hợp pháp của ông X là bà Nguyễn Thị T trình bày: Thống nhất với ý kiến của nguyên đơn về quan hệ huyết thống và về nguồn gốc đất tranh chấp.
Vào ngày 01/12/2004, hộ ông X được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thị xã B) cấp giấy chứng nhận QSDĐ số: U418563, vào sổ cấp GCN: 017330 QSDĐ/124/7/QĐ-UB, thửa đất số 08, 697, 698, 694, tờ bản đồ số 07, diện tích đất tổng cộng là: 16.342m².
Năm 2010, do cần tiền để trị bệnh tim cho con là Nguyễn Minh S3 nên bà T (vợ ông X) thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên để vay Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 số tiền 400.000.000 đồng. Thời hạn vay tiền là 01 năm tính từ ngày 31/12/2010 đến ngày 31/12/2011.
Khi đến thời hạn trả tiền nợ Ngân hàng TMCP N1 theo Hợp đồng số 702 thì bà T không có tiền trả nợ cho Ngân hàng nên bà T đã liên hệ với ông Đậu Văn L2 là người chuyên cho vay đáo hạn Ngân hàng để vay số tiền 450.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng. Sau đó ông L2 đã đại diện cho bà T đi trả tiền cho Ngân hàng, bao gồm các khoản: Nợ gốc, tiền lãi chậm trả và chi phí đáo hạn. Đến ngày 12/01/2012, ông L2, ông Đ và bà T đã ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C4 với số tiền 900.000.000 đồng là số tiền mà bà T đã vay của ông L2 để đáo hạn Ngân hàng, gồm: Tiền gốc vay Ngân hàng là 450.000.000 đồng theo Hợp đồng số 702.10.0239/HĐTCBĐS-NHNA ngày 31/12/2010; tiền lãi, tiền phí đáo hạn để tất toán Hợp đồng số 702.10.0239/HĐTCBĐS-NHNA ngày 31/12/2010 là 450.000.000 đồng.
Đến ngày 19/6/2012, ông L2, ông Đ và bà T ký văn bản hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 12/01/2012 nêu trên, đồng thời ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 19/6/2012, số công chứng 00003470 với cùng nội dung như Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2012 nhưng số tiền chuyển nhượng là 1.145.000.000 đồng, bao gồm: Tiền gốc nợ Ngân hàng là 450.000.000 đồng; tiền lãi, phí đáo hạn 450.000.000 đồng; tiền lãi tính từ ngày 12/01/2012 đến 19/6/2012 là 245.000.000 đồng. Sau đó, ông Trần Văn Đ được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BK 699975, số vào sổ: CH05043 ngày 01/8/2012 đối với thửa đất số 1569, tờ bản đồ 07 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BK 699977, số vào sổ: CH05044 ngày 01/8/2012 đối với thửa đất số 1472, tờ bản đồ số 07.
Đồng thời, ông Đậu Văn L2 cũng được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BK 69976, số vào sổ: CH05043 ngày 01/8/2012 đối với thửa đất số 1569, tờ bản đồ 07 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BK 699978, số vào sổ: CH05044 ngày 01/8/2012 đối với thửa đất số 1472, tờ bản đồ số 07.
Sau đó đến năm 2019 thì ông L2 và ông Đ chuyển nhượng các thửa đất nêu trên cho ông C1 và ông L3, cụ thể như sau:
- Chuyển nhượng thửa đất số 1569, tờ bản đồ số 07 cho ông Đậu Văn L3, sau đó ông L3 tiếp tục chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Như Ý.
- Chuyển nhượng thửa đất số 1472, tờ bản đồ số 07 cho ông Nguyễn Tấn C1.
Tại thời điểm ông L2 và ông Đ chuyển nhượng đất cho ông C1 thì do sự việc cũng lỡ nên ông X đồng ý để cho ông C1 nhận chuyển nhượng đất từ ông L2 nhưng với điều kiện là ông C1 phải trả lại cho ông X phần đất có diện tích ngang 06m, dài 60m, ông C1 cũng đồng ý với yêu cầu của ông X và đã viết “Bảng cam kết tách sổ” đề ngày 30/8/2019 với nội dung: Ông C1 sẽ tách sổ cho ông X diện tích ngang 06m, dài 60m, việc tách sổ do ông Đậu Văn L2 hổ trợ phần thổ cư 100m². Tuy nhiên, cho đến nay ông C1 không thực hiện đúng với nội dung đã cam kết.
Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông X có ý kiến như sau: Đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Thống nhất với ý kiến trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống, về nguồn gốc đất tranh chấp và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông X kê khai đăng ký quyền sử dụng đất có nguồn gốc của cha mẹ để lại thì ông T1 và chị em trong gia đình đồng ý nhưng chỉ để cho ông X canh tác lấy tiền nuôi con. Ông T1 khẳng định chữ ký trong “Đơn xin xác nhận nguồn gốc đất cho” đề ngày 04/11/2004 trong hồ sơ kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông X là của ông T1, bà Nguyễn Thị T10 và bà Nguyễn Thị Thu T4.
Năm 2006, ông X chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Trần Văn Đ1, Trần Thị X2 và Nguyễn Sỹ H thì ông T1 có biết nhưng tại thời điểm đó do gia đình ông X gặp khó khăn, con ông X bị bệnh nên ông T1 và các chị em trong gia đình đồng ý cho vợ chồng ông X chuyển nhượng đất để ông X có tiền chữa bệnh cho con. Trước yêu cầu khởi kiện của bà L, ông T1 có ý kiến như sau: Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L, đề nghị Tòa án chia thừa kế theo như yêu cầu khởi kiện của bà L.
3.2. Bà Nguyễn Thị T3 trình bày: Thống nhất với ý kiến của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về quan hệ huyết thống, về nguồn gốc đất tranh chấp và yêu cầu khởi kiện. Bà T3 yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.3. Bà Nguyễn Thị Thu T4 trình bày:
Thống nhất với ý kiến trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống, về nguồn gốc đất tranh chấp và yêu cầu khởi kiện.
Về việc phân chia đất của cha mẹ: Khi cha (ông T9) còn sống thì đã phân chia đất cho tất cả 05 anh chị em, trong đó: Ông X và ông T1 thì được chia phần đất gò và đất ruộng; còn lại các chị em gái gồm bà L, T3 và bà T4 thì chỉ được chia phần đất ruộng. Phần của ai người đó canh tác nhưng chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi cha chết thì anh chị em trong gia đình tiến hành kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo diện tích đất mà cha đã phân chia.
Bà T4 khẳng định chữ ký trong “Đơn xin xác nhận nguồn gốc đất cho” đề ngày 04/11/2004 trong hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông X là của bà T4, ông T1 cà bà T10.
Năm 2006, ông X chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các ông, bà Trần Văn Đ1, Trần Thị X2 và Nguyễn Sỹ H thì bà T4 và các anh chị em trong gia đình đều biết nhưng tại thời điểm đó do gia đình ông X gặp khó khăn, con ông X bị bệnh nên tất cả anh chị em trong gia đình đồng ý cho vợ chồng ông X chuyển nhượng đất để có tiền chữa bệnh cho con.
Trước yêu cầu khởi kiện của bà L, bà T4 yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L. Bà T4 yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.4. Ông Nguyễn Hữu S trình bày: Thống nhất với ý kiến của nguyên đơn về quan hệ huyết thống, về nguồn gốc đất tranh chấp và yêu cầu khởi kiện. Ông S yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.5. Ông Nguyễn Hữu S1 trình bày: Thống nhất với ý kiến của nguyên đơn về quan hệ huyết thống, về nguồn gốc đất tranh chấp và yêu cầu khởi kiện. Ông S1 yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.6. Trong Đơn yêu cầu độc lập đề ngày 09/8/2023, bà Nguyễn Thị T trình bày: Thống nhất với trình bày của nguyên đơn bà T4 và bị đơn ông X về quan hệ huyết thống, về nguồn gốc đất tranh chấp và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà T khẳng định việc bà đại diện hộ ông X ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông L2 và ông Đ là giả tạo để bảo đảm cho việc vay tiền.
Từ số nợ ban đầu chỉ khoảng 500.000.000 đồng vay trả ngân hàng năm 2012, trong thời gian khoảng 07 năm mà ông L2 đã tính tiền lãi lên gần 7.000.000.000 đồng, bà T chỉ muốn giải quyết dứt điểm nên đã đồng ý việc để ông L2 chuyển nhượng một phần thửa đất số 1472, tờ bản đồ 07 cho ông C1. Ông C1 hứa sẽ tách phần đất còn lại cho ông X với diện tích: chiều ngang 6 mét, chiều dài khoảng 60 mét là phần đất gắn liền với căn nhà mà gia đình bà T đang ở. Sự việc này cũng có lập Bản cam kết tách sổ ngày 30/8/2019. Nhưng từ ngày 30/8/2019 đến nay thì ông Đậu Văn L2 và ông Nguyễn Tấn C1 không có bất kỳ động thái nào để trả sổ đất lại cho gia đình bà T.
Đối với việc ông L2 và ông Đ chuyển nhượng thửa đất số 1596 cho ông Đậu Văn L3; ông Đậu Văn L3 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Như Ý thì bà T không biết.
Do đó, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 00003470 ngày 19/6/2012 được ký kết giữa bà T, ông Đậu Văn L2 và ông Trần Văn Đ (được Văn phòng C4 chứng nhận hợp đồng ngày 19/6/2012, số 00003470, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD).
- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1472, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương hiện do ông Nguyễn Tấn C1 đứng tên.
- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1569, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương hiện do bà Nguyễn Thị Như Ý đứng tên.
3.7. Ông Trần Văn Đ trình bày: Việc ông Đ và ông L2 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông X và bà T là đúng sự thật, không có việc vay tiền như bà T trình bày. Sau đó, vợ chồng ông Đ đã ủy quyền cho ông L2 để chuyển nhượng cho người khác. Ông Đ không đồng ý với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của bà L và bà T.
3.8. Bà Phạm Thị Mộng T5 trình bày: Bà T5 không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa, không có ý kiến cũng như yêu cầu gì trong vụ án, vắng mặt không lý do.
3.9. Ông Đậu Văn L2 trình bày: Trước đây ông L2 có chuyển nhượng cho ông C1 phần đất tọa lạc tại khu phố E, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương; việc chuyển nhượng cho ông C1 là hợp pháp và được Nhà nước cho phép.
Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông L2 có ý kiến như sau: Không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.
3.10. Bà Nguyễn Thị Kim T6 trình bày: Bà T6 không có ý kiến gì trong vụ án, yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.11. Ông Nguyễn Tấn C1 trình bày: Ông C1 không hợp tác, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa, không có ý kiến, vắng mặt không lý do.
3.12. Ông Đậu Văn L3 trình bày: Ông L3 không có ý kiến gì trong vụ án, yêu cầu giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.13. Bà Nguyễn Thị Thúy L4 trình bày: Bà L4 không có ý kiến gì trong vụ án, yêu cầu giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.14. Bà Nguyễn Thị Như Ý trình bày: Bà Ý nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 4.170 m² thuộc thửa 1569, tờ bản đồ 07 từ vợ chồng ông L3, việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp, được Nhà nước thừa nhận. Sau đó bà Ý, ông T8 đã chuyển nhượng lại phần đất này cho ông G. Trước yêu cầu khởi kiện của bà L, bà Ý có ý kiến như sau: Không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L. Do bận công việc làm ăn nên xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.15. Ông Phạm Văn T7 trình bày: Thống nhất với ý kiến và trình bày của bà Nguyễn Thị Như Ý. Ông T7 yêu cầu vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.16. Ông Đặng Quốc G trình bày: Ông G nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 4.170 m² thuộc thửa 1569, tờ bản đồ 07 từ bà Ý và ông T7, việc nhận chuyển nhượng là hợp pháp, được Nhà nước thừa nhận. Hiện nay ông G đang quản lý, sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L. Ông G yêu cầu vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.17. Bà Thái Thị Thanh X1 trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của ông G. Bà G yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.18. Ông Nguyễn Hữu T8 là người đại diện hợp pháp của Văn phòng C3 trình bày: Ngày 05/01/2012, Văn phòng C3 có tiếp nhận được yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Văn X, ông Nguyễn Minh S3, ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị T. Theo nội dung hợp đồng, ông X, ông S3, ông S ủy quyền cho bà T được toàn quyền thay mặt bên ủy quyền thực hiện tất cả các quyền quản lý, sử dụng và định đoạt đối với thửa đất số 1472, 694, 697, 698 tờ bản đồ số 07 với diện tích 15.033 m² tọa lạc tại thị trấn M, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U418563 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 1730/124/7) do UBND huyện B cấp ngày 01/12/2004, đăng ký biến động ngày 22/02/2010. Khi tiếp nhận hồ sơ nêu trên, công chứng viên đã tiến hành kiểm tra toàn bộ hồ sơ pháp lý, đối chiếu bản chính và bản sao các loại giấy tờ có liên quan. Nhận thấy hồ sơ hợp lệ, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện thực hiện giao dịch nên công chứng viên đã tiến hành soạn thảo hợp đồng, các bên đọc lại và đồng ý ký tên. Sau đó, công chứng viên đã chứng nhận vào hợp đồng ủy quyền theo đúng quy định của pháp luật. Hợp đồng ủy quyền đã được công chứng số 75, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/01/2012.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, Văn phòng C3 không có ý kiến gì và không có yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
19. Ông Phan Ngọc S2 là người đại diện hợp pháp của Văn phòng C4 trình bày: Văn phòng C4 không có ý kiến gì đối với yêu cầu độc lập của bà T. Do bận công việc nên ông S2 yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2023/DS-ST ngày 16/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn ông Nguyễn Văn X về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu hủy Hợp đồng ủy quyền và hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất".
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T đối với ông Đậu Văn L2 và ông Trần Văn Đ về việc: “yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
- Tách giao dịch dân sự giữa ông Nguyễn Tân C2 với ông Nguyễn Văn X để giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 18/10/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, bị đơn ông Nguyễn Văn X, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn T1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L do bà Lê Thị L1 đại diện, bị đơn ông Nguyễn Văn X do bà Nguyễn Thị T đại diện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 do bà Thạch Dương Song T2 đại diện, bà Nguyễn Thị T do ông Lê Văn C đại diện vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Về quan hệ nhân thân: Cha mẹ ruột của bà Nguyễn Thị L là ông Nguyễn Văn T9 (chết năm 2004) và bà Nguyễn Thị P (chết năm 1985). Ông T9 và bà P có 05 người con, gồm: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị T3, ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu T4. Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm thể hiện: Năm 2012, hộ ông Nguyễn Văn X chuyển nhượng cho ông Trần Văn Đ và ông Đậu Văn L2 phần đất có diện tích 15.033m², thuộc thửa 1472, 694, 697 và 698, tờ bản đồ 07. Đến ngày 01/8/2012 ông L2 và ông Đ đã được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên, cụ thể:
- Phần đất có diện tích 11.522m² thuộc thửa 1472: Giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BK 699978, số CH 05044 cho ông L2 cùng sử dụng đất với ông Đ (số phát hành BK 699978, số CH 05044). Đến ngày 30/8/2019, ông Đ, bà T5 (vợ ông Đ), ông L2 và bà T6 (vợ ông L2) đã chuyển nhượng phần đất này cho ông C2.
- Phần đất có diện tích 4.170m² thuộc thửa 1569 (hợp từ thửa 694, 697, và 698): Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BK 699975, số CH 05043 cấp cho ông Đ cùng sử dụng đất với ông L2 (số phát hành BK 699976, số CH 05043). Đến ngày 21/8/2019, ông Đ, bà T5 (vợ ông Đ), ông L2 và bà T6 (vợ ông L2) đã chuyển nhượng phần đất này cho ông Đậu Văn L3. Đến ngày 29/6/2020, ông L3 và bà Nguyễn Thị Thúy L4 (vợ ông L3) tiếp tục chuyển nhượng lại thửa đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Như Ý. Ngày 07/5/2021, bà Ý và ông T8 (chồng bà Ý) tiếp tục chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho ông Đặng Quốc G.
Căn cứ vào giấy xác định nguồn gốc đất ngày 06/3/2001 (bút lục 112) có nội dung “Cha mẹ cho” và tại lời khai ngày 27/7/2023 của bà Nguyễn Thị Thu T4 (là em ruột của bà L và ông X) xác định “Đơn xin xác nhận nguồn gốc đất cho” đề ngày 04/11/2004 thì chỉ có các chữ ký của bà T4, bà T10 và ông T1, không có chữ ký của bà L. Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đơn đăng ký ngày 06/3/2001 của ông Nguyễn Văn X không có sự đồng ý xác nhận của bà Nguyễn Thị L, đồng thời phía bị đơn Nguyễn Văn X thừa nhận không thông báo cho bà L biết mà tự đăng ký kê khai quyền sử dụng đất nên bị đơn đồng ý chia thừa kế theo đơn khởi kiện của bà L. Do vậy, việc bà L khởi kiện là có cơ sở. Ngoài ra, các anh chị em của nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất chia thừa kế phần đất như yêu cầu của nguyên đơn nhưng Tòa án sơ thẩm nhận định “di sản của ông T9, bà P không còn tồn tại” là chưa xem xét toàn diện chứng cứ có tại hồ sơ.
Theo tài liệu có tại hồ sơ thể hiện “Biên bản thỏa thuận ngày 01/7/2019" giữa ông Đậu Văn L2 với bà Nguyễn Thị T. Tại “BẢNG CAM KẾT TÁCH SỐ ghi ngày 30/8/2019” giữa ông Nguyễn Tấn C1 với ông Nguyễn Văn X có nội dung: “Ông C1 sẽ tách sổ cho ông X diện tích ngang 06m, dài 60m, việc tách sổ do ông Đậu Văn L2 hỗ trợ phần thổ cư 100m²”. Hiện tại thửa đất 1472, diện tích 11.522m² ông Nguyễn Tấn C1 đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên thửa đất này có căn nhà cấp 04, một số công trình và cây trồng (từ 02 năm đến 20 năm tuổi) do vợ chồng bị đơn ông X tạo dựng, đồng thời gia đình bị đơn đang sinh sống trên thửa đất này. Đối với thửa đất số 1569 là đất trồng lúa. Tuy nhiên, theo cam kết tách sổ ghi ngày 30/8/2019, thì ông C1 vẫn không thực hiện việc tách sổ cho gia đình ông X.
Từ những tình tiết trên, có cơ sở xác định thời điểm năm 2012, hộ ông Nguyễn Văn X chuyển nhượng cho ông Trần Văn Đ và ông Đậu Văn L2 đối với phần diện tích đất đang tranh chấp là vẫn đang tồn tại nhà của hộ ông X và gia đình ông X vẫn sinh sống trên đất cho đến nay, các bên giao dịch chuyển nhượng nhưng không bàn giao đất trên thực tế, nên đây là việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đối tượng không thực hiện được theo quy định tại Điều 411 của Bộ luật Dân sự năm 2005 “Hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được” (tương ứng Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015), nên có cơ sở xác định các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên là vô hiệu. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định và quyết định không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không phù hợp.
[2.6] Ngoài ra, các thành viên trong hộ ông X gồm: Ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Minh S3, Nguyễn Hữu S nhưng hợp đồng ủy quyền số: 75, quyển số: 01TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng C3, tỉnh Bình Dương không có bà Nguyễn Thị Thùy L6, sinh năm 1985 (đã 27 tuổi) nhưng bà L6 không tham gia ký kết hợp đồng nên hợp đồng này cũng bị vô hiệu theo quy định tại Điều 122 của Bộ luật Dân sự. Đồng thời, Tòa án sơ thẩm không đưa bà L6 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thiếu sót.
Do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đồng thời có căn cứ xác định các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên bị vô hiệu và phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, để bảo đảm hai cấp xét xử theo Điều 17 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cần phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giao về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định.
Từ những phân tích trên xét thấy kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ chấp nhận một phần.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhận dân tỉnh Bình Dương là phù hợp.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, bị đơn ông Nguyễn Văn X, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị Thu T4 và bà Nguyễn Thị T.
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2023/DS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2.Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L được miễn toàn bộ tiền án phí.
- Hoàn trả cho bị đơn ông Nguyễn Văn X; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị Thu T4 và bà Nguyễn Thị T mỗi người số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà T đã nộp theo các Biên lai thu tiền số 0012507 ngày 01/11/2023, 0012508, 0012514, 0012515 cùng ngày 02/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 399/2024/DS-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền
- Số bản án: 399/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
