|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 3986/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/8/2024.
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thế Hùng.
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 214/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4988/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 07 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 6010/2024/QĐST- HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thanh H, sinh năm: 1984;
Địa chỉ: A đường N, khu phố C, phường C thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Đổng Thanh P; sinh năm: 1984.
Địa chỉ: 4 đường F, khu phố A (nay là khu phố B), phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà H có mặt, ông P vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Thanh H trình bày:
Bà Trần Thị Thanh H và ông Đổng Thanh P chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức lễ cưới, và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06/2015, quyển số 01/2015 ngày 29/01/2015. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, giữa ông bà không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, cả hai không tìm được nói tiếng chung. Ông P và bà H đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được do mâu thuẫn đã quá trầm trọng. Ông P và bà H đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Hiện nay bà H không còn tình cảm gì với ông P, do đó bà yêu cầu được ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà H và ông P có 01 con chung là Đổng Thanh N, sinh ngày: 15/11/2015. Tại đơn khởi kiện bà H có yêu cầu được nuôi con chung và yêu cầu ông P cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng, tuy nhiên nay bà H có nguyện vọng giao con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển ổn định của trẻ, về cấp dưỡng bà H không có ý kiến, yêu cầu gì.
Tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có.
Bị đơn ông Đổng Thành P1 đã được Tòa án thực hiện các thủ tục cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do.
Tại phiên tòa, bà H xác định yêu cầu xin ly hôn với ông P1, đồng ý giao con chung cho ông P1 trực tiếp nuôi dưỡng, bà và ông P1 không có tài sản chung, nợ chung.
Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Bà H và ông P1 ly hôn, giao con chung là Đổng Thanh N, sinh ngày: 15/11/2015 cho ông P1 trực tiếp nuôi dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Trần Thanh H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đổng Thành P1. Do đó, quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn”, quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông P1 có nơi cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Đồng Thành P2 đã được Tòa án tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông P2.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
3.1. Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định ông Đổng Thành P1 và bà Trần Thanh H chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức lễ cưới, và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06, quyển số 01/2015 ngày 29/01/2015. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, giữa ông bà không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, cả hai không tìm được nói tiếng chung.
Căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa ông P1 và bà H là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T về hoàn cảnh gia đình cũng như mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng giữa ông P1 và bà H. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T trả lời không rõ về các thông tin này.
Bà H xác định giữa ông P1 và bà H phát sinh mâu thuẫn vợ chồng từ thời điểm năm 2019 do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, cho đến nay ông bà vẫn chưa tìm được tiếng nói chung, cả hai không thể cảm thông, chia sẻ hết cho nhau những khó khăn trong cuộc sống của cả đôi bên. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, hiện nay bà H không còn tình cảm gì với ông P1. Ông P1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã giải thích, động viên bà H bỏ qua mọi mâu thuẫn để đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình và cùng nuôi dạy con cái nhưng bà H không đồng ý quay về đoàn tụ mà cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân là sự tự nguyện của cả hai bên cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, có nghĩa vụ sống chung với nhau theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Như vậy, cả ông P1 và bà H đều đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ của vợ chồng nêu trên. Điều này cũng cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông P1 và bà H là trầm trọng, tình cảm yêu thương vợ chồng đã hết, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà H yêu cầu được ly hôn với ông P1 là có cơ sở để chấp nhận.
3.2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và Giấy khai sinh số 227/2015, quyển số 02/2015 của Ủy ban nhân dân phường C, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định ông P1 và bà H có một con chung là Đổng Thanh N, sinh ngày: 15/11/2015. Xét thấy, con chung hiện nay đang sinh sống học tập ổn định cùng với ông P1, đồng thời bà H có nguyện vọng giao con chung cho ông P1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục để ổn định cuộc sống của con. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao con chung Đổng Thanh N cho ông P1 được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: bà H không có ý kiến, yêu cầu gì về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3.3. Về tài sản chung, nợ chung:
Bà H xác định bà và ông P1 không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông P1 không phải chịu án phí.
Về quyền kháng cáo: Bà H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông P1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thanh H:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thanh H ly hôn với ông Đổng Thành P1.
- Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thanh H và ông Đổng Thành P1 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06/2015, quyển số 01/2015, ngày 29/01/2015 của Ủy ban nhân dân phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là Đổng Thanh N, sinh ngày: 15/11/2015 cho ông Đ Thành Phước trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà H không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
- Các bên thi hành dưới sự giám sát của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí:
Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Trần Thanh H phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/23P, số 0000693 ngày 24/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Ông P1 không phải chịu án phí.
- Về quyền kháng cáo:
Bà Trần Thanh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đổng Thành P1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân các cấp có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật./.
- Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Trung Thực |
Bản án số 3986/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 3986/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh H- Đổng Thanh P
