|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————————————— |
Bản án số: 3982/KDTM-ST
Ngày: 26/8/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Võ Văn Lợi
- 2. Bà Phạm Thị Ngọc Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 431/2023/TLST-KDTM ngày 07 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6138/2024/QĐXXST-KDTM ngày 31/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần C1
Trụ sở: Số E Đường B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm: 1986 (Văn bản ủy quyền 06/2024/UQ-TP ngày 26/08/2024).
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn K
Địa chỉ: Số A Đường T, Khu phố C, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 1979
Địa chỉ: Số B Đường I, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
1
Đại diện nguyên đơn có mặt, đại diện theo pháp luật của bị đơn có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn - Công ty Cổ phần C1 có đại diện theo ủy quyền là bà Lê Thị Thanh T trình bày:
Công ty Cổ phần C1 (sau đây gọi là Công ty C1”) và Công ty TNHH K (sau đây gọi là Công ty K) có ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa để Công ty C1 bán sản phẩm dây cáp điện cho Công ty K, bao gồm:
- Hợp đồng số 574/2022/TP-HV ngày 07/10/2022, giá trị 374.628.293 đồng (đã gồm thuế giá trị gia tăng – VAT). Công ty C1 đã giao hàng vào ngày 21/10/2022 và xuất hóa đơn VAT số 00006252 trị giá 374.628.293 đồng. Công ty C1 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, giao hàng hóa đúng chất lượng, số lượng, tiến độ và theo các thỏa thuận khác trong hợp đồng. Thời hạn thanh toán là ngày 21/11/2022 nhưng đến nay Công ty K chưa thanh toán cho Công ty C1 nên đã phát sinh lãi chậm trả theo khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng với mức lãi suất 13.5%, tiền lãi tạm tính đến ngày 05/10/2023 là 43.231.087 đồng.
- Hợp đồng số 1137/2022/TP-HV ngày 06/12/2022, giá trị 170.529.744 đồng (đã gồm thuế giá trị gia tăng VAT). Theo đó, Công ty C1 đã giao hàng cho Công ty K theo các lần cụ thể như sau: Lần 1: Giao hàng ngày 29/12/2022 theo Biên bản giao hàng kèm chi tiết đóng gói số 138346 BBGH 2022 và xuất hóa đơn số 00007736 trị giá 81.808.188 đồng; Lần 2: Giao hàng ngày 12/12/2022 theo Biên bản giao hàng kém chi tiết đóng gói số [...] BBGH 2022 và xuất hóa đơn số 00007342 trị giá 170.529.744 đồng; Lần 3: Giao hàng ngày 15/12/2022 theo Biên bản giao hàng kém chi tiết đóng gói số 00007435 BBGH 2022 và xuất hóa đơn số 00007435 trị giá 27.653.472 đồng. Tại lần giao hàng 1 và 2 Công ty K đã thanh toán đúng theo quy định, đến đợt giao hàng lần 3 thì Công ty K đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 3 của Hợp đồng Công ty K thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty C1 trước khi nhận hàng (ngày đến hạn thanh toán là 15/12/2022). Đến nay đã quá thời hạn thanh toán nhưng Công ty K vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền 27.653.472 đồng. Công ty C1 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, giao hàng hóa đúng chất lượng, số lượng, tiến độ và theo các thỏa thuận khác trong hợp đồng. Thời hạn thanh toán là ngày 15/12/2022 nhưng đến nay Công ty K chưa thanh toán cho Công ty C1. Do vậy, đến nay đã phát sinh lãi chậm trả theo khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng với mức lãi suất 13.5%, tiền lãi tạm tính đến ngày 05/10/2023 là 2.628.595 đồng.
Số nợ gốc đã được các bên đối chiếu công nợ tại Biên bản họp ngày 19/4/2023, đồng thời Công ty C1 đã nhiều lần gửi công văn và làm việc trực tiếp yêu cầu Công ty K thanh toán số tiền trên nhưng Công ty K vẫn không thanh toán. Như vậy, tạm tính đến 05/10/2023 Công ty Trách nhiệm hữu hạn K còn nợ Công ty cổ phần C1 là 448.141.521 đồng, bao gồm nợ gốc 402.281.839 và nợ lãi 45.859.682 đồng.
2
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/10/2023 Công ty cổ phần C1 yêu cầu tính lãi suất chậm thanh toán là 13.5%/năm. Tuy nhiên, sau khi xem xét lại nội dung của các Hợp đồng mua bán hàng hóa đã ký thì Công ty C1 rút một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu Công ty TNHH K M.E chịu lãi suất chậm thanh toán là 6%/năm.
Do, Công ty Trách nhiệm hữu hạn K vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty Cổ phần C1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc: Công ty Cổ phần C1 khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH K thanh toán ngay cho Công ty Cổ phần C1 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 30/7/2024 tổng cộng là 442.370.219 đồng (Bốn trăm bốn mươi hai triệu ba trăm bảy mươi nghìn hai trăm mười chín đồng), bao gồm: Nợ gốc là 402.281.839 (Bốn trăm linh hai triệu, hai trăm tám mươi mốt nghìn, tám trăm ba mươi chín đồng) và nợ lãi là 40.088.380 đồng (Bốn mươi triệu không trăm tám mươi tám nghìn ba trăm tám mươi đồng). Ngoài ra, Công ty TNHH K M.E tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo lãi suất 6%/năm kể từ ngày 31/7/2024 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên.
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn K M.E có đơn xin vắng mặt, tại bản tự khai ngày 09/8/2024, người đại diện theo pháp luật – bà Nguyễn Thị Mỹ C có ý kiến như sau:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn K xác nhận có ký với Công ty cổ phần C1 Hợp đồng số 574/2022/TP-HV ngày 07/10/2022 và Hợp đồng số 1137/2022/TP-HV ngày 06/12/2022. Ngày 31/12/2022, Công ty Trách nhiệm hữu hạn K và Công ty Cổ phần C1 có ký Biên bản xác nhận công nợ, theo đó Công ty Trách nhiệm hữu hạn K M.E xác nhận còn nợ Công ty C1 số tiền 402.000.000 đồng. Hiện nay Công ty Trách nhiệm hữu hạn K gặp nhiều khó khăn do tình hình xây dựng dự án bị ngưng trệ, việc thu hồi vốn về chậm nên dẫn đến chưa có nguồn thanh toán cho Công ty C1. Trên tinh thần hợp tác lâu dài của hai bên từ trước đến nay, bà C đề nghị Công ty C1 cho giãn thời gian thanh toán, cho Công ty TNHH K M.E trả dần trong vòng 09 tháng, kể từ ngày 01/9/2024.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH K M.E trả tiền nợ gốc 402.281.839 (Bốn trăm linh hai triệu, hai trăm tám mươi mốt nghìn, tám trăm ba mươi chín đồng) và nợ lãi tính từ ngày 31/12/2022 đến ngày 26/8/2024 là 41.873.850 đồng. Ngoài ra, Công ty TNHH K tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo lãi suất 6%/năm kể từ ngày 27/8/2024 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật nhưng còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử nên cần rút kinh nghiệm.
3
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn - Công ty Cổ phần C1, tranh chấp yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn K, địa chỉ trụ sở chính: Số A đường T, Khu phố C, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thanh toán số tiền hàng hóa theo Hợp đồng số 574/2022/TP-HV ngày 07/10/2022 và Hợp đồng số 1137/2022/TP-HV ngày 06/12/2022. Đây là tranh chấp phát sinh giữa các pháp nhân và nhằm mục đích sinh lợi nên là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do tại thời điểm Tòa án thụ lý, bị đơn có trụ sở tại thành phố T nên căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn có mặt. Người đại diện theo pháp luật của bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung tranh chấp
[3.1] Nguyên đơn Công ty Cổ phần C1 khởi kiện yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn K M.E thanh toán số tiền nợ gốc, nợ lãi của hai hợp đồng là 402.281.839 (Bốn trăm linh hai triệu, hai trăm tám mươi mốt nghìn, tám trăm ba mươi chín đồng) và nợ lãi tạm tính đến ngày 26/8/2024 là 41.873.850 đồng. Ngoài ra, Công ty TNHH K M.E tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo lãi suất 6%/năm kể từ ngày 27/8/2024 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào Biên bản xác nhận công nợ ngày 31/12/2022, Công ty Trách nhiệm hữu hạn K xác nhận còn nợ Công ty Cổ phần C1 số tiền 402.000.000 đồng theo Hợp đồng số 574/2022/TP-HV ngày 07/10/2022 và Hợp đồng số 1137/2022/TP-HV ngày 06/12/2022. Người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn K là bà Nguyễn Thị Mỹ C cũng xác nhận số tiền còn lại chưa thanh toán và đề nghị được trả dần trong vòng 09 tháng, kể từ 01/9/2024. Tuy nhiên, Công ty Cổ phần C1 không đồng ý với phương án thanh toán trên mà yêu cầu trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
4
Do đó, căn cứ Điều 50, Điều 55 Luật Thương mại 2005 thì việc yêu cầu của Công ty Cổ phần C1 về việc buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn K M.E phải thanh toán số tiền còn nợ 402.000.000 đồng là có cơ sở nên chấp nhận.
[3.2] Về thời điểm tính lãi và lãi suất chậm trả:
Công ty Cổ phần C1 tính lãi chậm trả với mức lãi suất 4%/năm x 150% = 6%/ năm; đối với Hợp đồng số 574/2022/TP-HV, tiền lãi suất nợ quá hạn tính từ ngày 28/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 39.228.209 đồng; Hợp đồng số 1137/2022/TP-HV, tính từ ngày 22/01/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 2.645.642 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hợp đồng số 574/2022/TP-HV ngày 07/10/2022, Công ty C1 đã giao hàng vào ngày 21/10/2022 và xuất hóa đơn VAT số 00006252. Thời hạn thanh toán là ngày 21/11/2022; Hợp đồng số 1137/2022/TP-HV ngày 06/12/2022, Công ty C1 đã giao hàng cho Công ty K theo các lần cụ thể như sau: Lần 1: Giao hàng ngày 29/12/2022; Lần 2: Giao hàng ngày 12/12/2022; Lần 3: Giao hàng ngày 15/12/2022.
Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 3 của Hợp đồng, Công ty K thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty C1 sau khi nhận hàng 30 ngày. Do đó, Công ty C1 xác định thời điểm bắt đầu tính lãi như trên là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.
Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Căn cứ theo điểm e khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng quy định tiền lãi suất nợ quá hạn đối với khoản tiền chậm thanh toán: “Lãi suất được tính theo lãi suất cho vay kinh doanh của Ngân hàng N được công bố tại thời điểm thanh toán x 150%” Công ty Cổ phần C1 yêu cầu bị đơn thanh toán 6%/năm (Lãi suất cho vay kinh doanh của Ngân hàng N theo Quyết định số 1125 QĐ-NHNN ngày 16/6/2023 là 4%/năm) là phù hợp với Điều 357, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận.
Như vậy, Công ty Trách nhiệm hữu hạn K phải có nghĩa vụ phải thanh toán cho Công ty Cổ phần C1 số tiền nợ gốc là 402.281.839 đồng và tiền lãi suất chậm thanh toán, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/8/2024 ) với số tiền là 41.873.850 đồng (Hợp đồng số 574/2022/TP-HV với số tiền 39.228.209 đồng; Hợp đồng số 1137/2022/TP-HV, với số tiền 2.645.642 đồng). Công ty Trách nhiệm hữu hạn K M còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong toàn bộ dư nợ.
Ngày 30/7/2024, người đại diện theo ủy quyền bà Lê Thị Hồng V có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn K M.E phải chịu mức lãi suất chậm thanh toán là 13,5%/năm. Nay việc rút yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn K M.E chịu lãi suất chậm trả là 6%/năm. Việc rút yêu cầu là tự nguyện nên chấp nhận
5
[4] Về án phí:
Công ty Cổ phần C1 không phải chịu án phí. Công ty Trách nhiệm hữu hạn K M.E phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
Ghi nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về thủ tục tố tụng: Xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thủ tục thông báo các văn bản tố tụng giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và về việc rút kinh nghiệm do vụ án vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 50, Điều 85, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần C1:
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn K phải có nghĩa vụ phải thanh toán Công ty Cổ phần C1 tổng cộng số tiền 444.155.689 đồng (Bốn trăm bốn mươi bốn triệu một trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng); trong đó: Tiền nợ gốc là 402.281.839 đồng và tiền lãi suất chậm thanh toán, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/8/2024) với số tiền là 41.873.850 đồng.
Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty Trách nhiệm hữu hạn K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Hợp đồng số 574/2022/TP-HV ngày 07/10/2022 và Hợp đồng số 1137/2022/TP-HV ngày 06/12/2022.
6
2. Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn K M.E phải chịu mức lãi suất chậm thanh toán là 13,5%/năm.
3. Về án phí:
Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên bị đơn phải chịu án phí. Công ty K phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 21.766.228 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm hai mươi tám đồng). Công ty Trách nhiệm hữu hạn K chưa đóng án phí.
Hoàn trả Công ty Cổ phần C1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.962.830 đồng (Mười triệu chín trăm sáu mươi hai nghìn tám trăm ba mươi đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0000440 ngày 06/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Công ty Cổ phần C1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn K, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
7
8
Bản án số 3982/KDTM-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 3982/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
